Luận văn: Hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách tại huyện Bố Trạch

Tài liệu phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Bố Trạch.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2016-2018

116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý chi thường xuyên NSNN tại Bố Trạch

Quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước (NSNN) là nhiệm vụ cốt lõi, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Tại huyện Bố Trạch, công tác này đóng vai trò then chốt trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực công một cách hợp lý. Chi thường xuyên, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách, là nguồn kinh phí để duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đảm bảo an ninh quốc phòng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Việc nâng cao hiệu quả chi thường xuyên không chỉ giúp tiết kiệm chi thường xuyên mà còn tạo dư địa tài chính cho chi đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Luận văn của tác giả Trần Trang Vân về “Hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Bố Trạch” đã cung cấp một cơ sở dữ liệu và phân tích sâu sắc về vấn đề này. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc tuân thủ Luật Ngân sách nhà nước 2015 và các văn bản hướng dẫn là nền tảng cho một hệ thống tài chính công Bố Trạch minh bạch và hiệu quả. Quá trình quản lý ngân sách nhà nước huyện Bố Trạch bao gồm các khâu trọng yếu từ lập dự toán, chấp hành, kiểm soát chi cho đến quyết toán. Mỗi khâu đều đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan như Phòng Tài chính Kế hoạch Bố TrạchKho bạc nhà nước Bố Trạch. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo mọi khoản chi đều đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện đời sống người dân. Việc hiểu rõ bản chất và quy trình quản lý là bước đầu tiên để xác định những thách thức và đề xuất giải pháp phù hợp.

1.1. Vai trò chi thường xuyên trong tài chính công Bố Trạch

Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu chi NSNN của huyện Bố Trạch. Theo số liệu giai đoạn 2014-2016, chi thường xuyên chiếm tới 73,68% tổng chi NSNN. Khoản chi này đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước, từ chi trả lương, phụ cấp cho cán bộ, công chức đến chi mua sắm, sửa chữa tài sản, duy trì dịch vụ công thiết yếu như giáo dục, y tế. Do đó, quản lý hiệu quả khoản chi này có ý nghĩa quyết định đến việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính công Bố Trạch và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

1.2. Quy trình quản lý chi NSNN theo Luật Ngân sách 2015

Theo Luật Ngân sách nhà nước 2015, quy trình quản lý chi NSNN được thực hiện qua bốn giai đoạn chính: lập dự toán, chấp hành dự toán, kế toán và quyết toán. Tại Bố Trạch, quy trình này bắt đầu từ việc các đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán, sau đó Phòng Tài chính Kế hoạch Bố Trạch tổng hợp và trình UBND huyện. Sau khi HĐND huyện phê duyệt, dự toán được giao cho các đơn vị. Kho bạc nhà nước Bố Trạch thực hiện kiểm soát các khoản chi trước khi thanh toán, đảm bảo tuân thủ dự toán và các quy định pháp luật. Cuối cùng, các đơn vị lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước để tổng kết và đánh giá hiệu quả sử dụng kinh phí.

II. Thách thức trong quản lý chi ngân sách nhà nước Bố Trạch

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bố Trạch vẫn đối mặt với nhiều thách thức và hạn chế. Thực trạng quản lý chi ngân sách tại Bố Trạch giai đoạn 2014-2016 cho thấy tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi còn rất lớn và có xu hướng tăng nhanh. Điều này gây áp lực lên cân đối ngân sách, làm giảm nguồn lực dành cho chi đầu tư phát triển. Báo cáo nghiên cứu chỉ rõ: "tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi còn lớn và tăng nhanh trong thời gian vừa qua do đó phải giảm chi đầu tư và bố trí chi trả nợ thấp hơn nhu cầu". Một trong những vấn đề nổi cộm là hiệu quả các khoản chi chưa cao, tình trạng lãng phí vẫn còn tồn tại trong các hoạt động như hội nghị, tiếp khách, công tác phí. Công tác lập dự toán đôi khi chưa sát với thực tế, dẫn đến chênh lệch lớn giữa dự toán và quyết toán. Tỷ lệ chênh lệch cao cho thấy việc lập và thực hiện dự toán chưa chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc chấp hành kỷ luật tài chính ở một số đơn vị chưa nghiêm, còn tình trạng chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức. Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước dù đã được tăng cường nhưng vẫn cần cải thiện hơn nữa để ngăn chặn thất thoát. Những hạn chế này không chỉ cản trở tiềm năng phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào vai trò quản lý của nhà nước, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ và đồng bộ.

2.1. Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách tại Bố Trạch

Phân tích số liệu giai đoạn 2014-2016 cho thấy bức tranh rõ nét về thực trạng quản lý chi ngân sách tại Bố Trạch. Tổng chi thường xuyên trong giai đoạn này là 1.365.132 triệu đồng, chiếm 73,68% tổng chi NSNN. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với chi đầu tư phát triển (chỉ chiếm 17,43%). Sự mất cân đối này cho thấy áp lực lớn trong việc duy trì hoạt động bộ máy và thực hiện các chính sách xã hội, nhưng đồng thời cũng là một rào cản cho sự phát triển dài hạn. Công tác lập dự toán và quyết toán cũng bộc lộ hạn chế khi tỷ lệ chênh lệch giữa hai chỉ số này còn ở mức cao.

2.2. Hạn chế trong phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách

Một trong những hạn chế lớn là công tác phân bổ dự toán chi thường xuyên đôi khi còn mang tính bình quân, chưa thực sự dựa trên khối lượng công việc và hiệu quả hoạt động của từng đơn vị. Điều này dẫn đến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu kinh phí. Về quyết toán ngân sách nhà nước, quy trình thẩm định và phê duyệt còn có thể được cải thiện để đảm bảo tính chính xác và kịp thời. Việc chậm trễ trong quyết toán có thể ảnh hưởng đến việc lập dự toán cho năm ngân sách tiếp theo, tạo ra một vòng lặp kém hiệu quả trong chu trình ngân sách.

III. Bí quyết nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN

Để nâng cao hiệu quả chi thường xuyên, việc hoàn thiện công tác quản lý cần được thực hiện một cách đồng bộ trên nhiều phương diện. Giải pháp trọng tâm đầu tiên là nâng cao chất lượng công tác lập và phân bổ dự toán chi thường xuyên. Dự toán cần được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực hiện của năm trước, kết hợp với các nhiệm vụ chính trị, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc áp dụng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phải được thực hiện nghiêm túc, tránh dàn trải và cào bằng. Yếu tố cốt lõi thứ hai là tăng cường công khai minh bạch ngân sách. Tất cả các khâu từ lập dự toán, phân bổ, cấp phát đến quyết toán đều phải được công khai theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2015. Điều này không chỉ giúp người dân và các tổ chức xã hội giám sát hiệu quả chi tiêu công mà còn nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị sử dụng ngân sách. Cuối cùng, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình quản lý chi NSNN. Việc sử dụng các phần mềm quản lý ngân sách hiện đại như TABMIS giúp tự động hóa quy trình, đảm bảo tính chính xác của dữ liệu, và hỗ trợ công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc nhà nước Bố Trạch trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn.

3.1. Nâng cao chất lượng lập phân bổ dự toán chi thường xuyên

Để cải thiện chất lượng lập dự toán, các đơn vị cần xây dựng kế hoạch chi chi tiết, có thuyết minh rõ ràng về cơ sở tính toán. Phòng Tài chính Kế hoạch Bố Trạch cần tăng cường vai trò thẩm định, rà soát kỹ lưỡng các khoản chi, kiên quyết cắt giảm những khoản chi không thực sự cần thiết. Quá trình phân bổ dự toán chi thường xuyên cần ưu tiên cho các lĩnh vực trọng yếu, các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời gắn việc phân bổ kinh phí với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, tạo động lực để tiết kiệm chi thường xuyên.

3.2. Đẩy mạnh công khai minh bạch ngân sách tại các đơn vị

Thực hiện công khai minh bạch ngân sách là một giải pháp then chốt để chống lãng phí và tham nhũng. Các đơn vị sử dụng ngân sách tại Bố Trạch cần công khai dự toán, quyết toán chi tiết trên trang thông tin điện tử của mình và tại trụ sở làm việc. Nội dung công khai cần rõ ràng, dễ hiểu để mọi cá nhân, tổ chức có thể tiếp cận và giám sát. Việc này không chỉ là tuân thủ pháp luật mà còn là công cụ để xây dựng lòng tin, thúc đẩy một nền tài chính công Bố Trạch lành mạnh.

IV. Phương pháp kiểm soát chi NSNN Bố Trạch chặt chẽ hơn

Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước là giải pháp trực tiếp và hiệu quả nhất để ngăn chặn lãng phí và sai phạm. Vai trò của Kho bạc nhà nước Bố Trạch cần được phát huy tối đa trong khâu kiểm soát trước, trong và sau khi chi. Mọi khoản chi phải được kiểm tra kỹ lưỡng về tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ, chứng từ, đảm bảo nằm trong dự toán được duyệt và đúng tiêu chuẩn, định mức. Kho bạc có quyền từ chối thanh toán các khoản chi không đủ điều kiện. Đồng thời, cần hoàn thiện quy chế phối hợp giữa cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị sử dụng ngân sách. Sự phối hợp này giúp trao đổi thông tin kịp thời, giải quyết các vướng mắc phát sinh và nâng cao hiệu quả kiểm soát. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra tài chính cần được thực hiện thường xuyên và đột xuất tại các đơn vị. Hoạt động này không chỉ phát hiện và xử lý các sai phạm mà còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Kết quả thanh tra, kiểm tra phải được công khai và các kiến nghị xử lý phải được thực hiện nghiêm túc. Đây là một phần quan trọng của cải cách tài chính công tại địa phương, đảm bảo kỷ luật, kỷ cương tài chính được giữ vững, góp phần tiết kiệm chi thường xuyên một cách bền vững.

4.1. Tăng cường vai trò kiểm soát của Kho bạc Nhà nước Bố Trạch

Để nâng cao năng lực kiểm soát, Kho bạc nhà nước Bố Trạch cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ. Cán bộ kiểm soát chi phải nắm vững các quy định pháp luật, chế độ, chính sách hiện hành. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình kiểm soát cũng cần được đẩy mạnh, giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ nhưng vẫn đảm bảo sự chặt chẽ. Kho bạc cần chủ động phối hợp với Phòng Tài chính Kế hoạch Bố Trạch để đối chiếu, xác minh thông tin khi có nghi vấn, đảm bảo tiền của nhà nước được chi tiêu đúng mục đích.

4.2. Hoàn thiện cơ chế thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra tài chính hàng năm, tập trung vào các lĩnh vực, đơn vị có rủi ro cao về lãng phí, sai phạm. Quy trình thanh tra phải khoa học, khách quan. Đặc biệt, việc xử lý các vi phạm sau thanh tra phải được thực hiện nghiêm minh, không có vùng cấm, từ xử lý hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm. Điều này sẽ củng cố kỷ luật tài chính và nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước huyện Bố Trạch.

V. Lộ trình cải cách tài chính công tại huyện Bố Trạch

Hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN tại Bố Trạch là một quá trình liên tục, đòi hỏi một lộ trình cải cách tài chính công rõ ràng và quyết liệt. Trong ngắn hạn, huyện cần tập trung rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy chế chi tiêu nội bộ tại từng đơn vị, đảm bảo phù hợp với quy định của nhà nước và thực tiễn địa phương, hướng tới mục tiêu tiết kiệm chi thường xuyên. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính - kế toán ở cả cấp huyện và các đơn vị trực thuộc. Về trung và dài hạn, Bố Trạch cần hướng tới việc quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra. Thay vì chỉ kiểm soát chi tiêu đầu vào, cơ chế quản lý sẽ gắn việc phân bổ ngân sách với hiệu quả công việc và chất lượng dịch vụ công mà đơn vị cung cấp. Điều này đòi hỏi phải xây dựng được hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả (KPIs) cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực. Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập cũng là một hướng đi quan trọng. Giao quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm sẽ khuyến khích các đơn vị năng động, sáng tạo trong việc sử dụng nguồn lực và tìm kiếm các nguồn thu hợp pháp khác, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.

5.1. Xây dựng kế hoạch tài chính ngân sách trung hạn 3 5 năm

Thay vì lập dự toán hàng năm một cách bị động, Bố Trạch cần xây dựng kế hoạch tài chính - ngân sách trung hạn (3-5 năm). Kế hoạch này giúp định hình rõ các ưu tiên chi tiêu, lường trước các nguồn lực và thách thức, tạo sự chủ động và ổn định trong điều hành ngân sách. Việc này giúp liên kết chặt chẽ hơn giữa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội dài hạn với việc phân bổ ngân sách hàng năm, đảm bảo quản lý ngân sách nhà nước huyện Bố Trạch một cách bền vững.

5.2. Đẩy mạnh cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập

Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính và nhân sự cho các đơn vị sự nghiệp như trường học, bệnh viện sẽ là động lực mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả chi thường xuyên. Khi được tự chủ, các đơn vị sẽ có ý thức hơn trong việc tiết kiệm chi thường xuyên, sử dụng tài sản công hiệu quả và nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút nguồn thu, từng bước giảm gánh nặng cho ngân sách địa phương. Đây là một bước đi tất yếu trong lộ trình cải cách tài chính công.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện bố trạch tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan lý luận về ngân sách và chi thường xuyên ngân sách nhà nước 1. Tổng quan lý luận về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm về ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước (hay ngân sách chính phủ) là một phạm trù mang tính lịch sử, phản ảnh những mặt nhất định của quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình từ trung ương đến địa phương.

Tại khoản 14, điều 4, Luật Ngân sách nhà nước (2015) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa rằng, “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Về mặt bản chất, NSNN phản ảnh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế - xã hội trong phân phối tổng sản phẩm xã hội thông qua việc tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể thụ hưởng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Nội dung chủ yếu của NSNN là thu chi nhưng không phải là các con số, không phải là quy mô, sự tăng giảm số lượng tiền tệ đơn thuần mà còn phản ánh chủ trương, chính sách của Nhà nước, biểu hiện các quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền, giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế khác của nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực xã hội và phân phối nguồn thu nhập mới tạo ra. Vai trò của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của 5 nền kinh tế, xã hội, an ninh – quốc phòng và đối ngoại của quốc gia.

Đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội (Phạm Ngọc Anh, 2012). NSNN đóng vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Cụ thể: Thứ nhất, huy động các nguồn tài chính của NSNN để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lý bởi nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.

Chính vì thế, cần phải xác định mức huy động vào NSNN phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội. Thứ hai, NSNN là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô. NSNN là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất, tăng tính cạnh tranh trong thị trường và phá vỡ thế độc quyền. Chính phủ sẽ xây dựng định hướng phát triển kinh tế của các thành phần kinh tế trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển sản xuất theo định hướng đã xây dựng.

Thông qua hoạt động của NSNN, chính phủ sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của mọi thành phần kinh tế. Thứ ba, hoạt động của NSNN nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế, phí và lệ phí của nhà nước. Thứ tư, NSNN giữ vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính phủ có thể trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hoặc có hoàn cảnh đặc biệt như thông qua các khoản chi về trợ cấp xã hội.

Ngoài ra, chính phủ cũng có thể trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào vùng lũ lụt, thiên tai. 6 Thứ năm, nhà nước sử dụng NSNN như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát của nền kinh tế. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, những mặt hàng mang tính chiến lược, ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động của nền kinh tế, xã hội. Cơ chế điều tiết được thực hiện thông qua các chính sách trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia.

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 1. Khái niệm Phân cấp quản lý NSNN là quá trình nhà nước trung ương và cấp tỉnh phân giao những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho các cấp chính quyền ở địa phương trong hoạt động quản lý thu chi NSNN. Phân cấp quản lý NSNN được xem là một trong những biện pháp quản lý NSNN. Về mặt bản chất, việc phân cấp quản lý NSNN là việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý hoạt động của NSNN cho các cấp chính quyền nhằm làm cho hoạt động của NSNN được lành mạnh và đạt hiệu quả cao.

Phân cấp quản lý thu chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, dân chủ tập trung. Điều này được quy định chi tiết trong Luật Ngân sách nhà nước (2015), phân định cụ thể nhiệm vụ thu chi cho ngân sách mỗi cấp. Trong đó, nội dung chính về phân cấp quản lý thu NSNN là tập trung đại bộ phận nguồn thu lớn, ổn định cho ngân sách trung ương (NSTW), đồng thời tạo cho ngân sách địa phương (NSĐP) có nguồn thu gắn với địa bàn. Trên tinh thần đó, nguồn thu NSNN được chia thành ba loại: các khoản thu NSTW hưởng 100%, các khoản thu NSĐP hưởng 100% và các khoản thu điều tiết theo tỉ lệ phần trăm (%) giữa NSTW và NSĐP.

Các nguyên tắc phân cấp quản lý Theo Nguyễn Văn Tuyến (2007), phân cấp quản lý NSNN các cấp từ Trung ương đến địa phương phải đảm bảo bốn nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội, an ninh – quốc phòng và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. Thứ hai, đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và vị trí độc lập của NSĐP trong hệ thống NSNN thống nhất. 7 Thứ ba, phân định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của từng cấp ngân sách. Phân định rõ nguồn thu và nhiệm vụ chi nào gắn với NSTW, nguồn thu và nhiệm vụ chi nào gắn với NSĐP nhằm làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, tạo điều kiện cho các cấp chính quyền ở địa phương, nhất là các cơ sở chủ động thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế , xã hội trên địa bàn, hạn chế tình trạng trông chờ, ỷ lại của ngân sách cấp dưới đối và tình trạng bao biện của ngân sách cấp trên.

Thứ tư, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN. Phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo yêu cầu cân đối phát triển chung của đất nước, hạn chế đến mức thấp nhất sự chênh lệch về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng lãnh thổ. Yêu cầu của nguyên tắc này xuất phát từ các vùng, các địa phương trong cùng một quốc gia có những đặc điểm tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều. Nếu một hệ thống NSNN được phân cấp đơn giản, áp dụng như nhau cho tất cả các địa phương, các vùng lãnh thổ trong một quốc gia có thể dẫn tới mất cân bằng, tạo ra những khoảng cách lớn về sự phát triển giữa các địa phương.

Những vùng đô thị hoặc nhưng vùng có tiềm năng phát triển kinh tế ngày càng được phát triển trong khi các vùng nông thôn, miền núi hẻo lánh không có tiềm năng phát triển thì ngày càng tụt hậu. Cơ sở lý luận về chi thường xuyên nguồn ngân sách nhà nước 1. Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ. Nội dung chi ngân sách rất đa dạng, xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

Hay nói cách khác, chi NSNN là công việc định vị khoản chi cụ thể cho từng mục tiêu, hoạt động và công việc thuộc chức năng của Nhà nước đảm bảo thực hiện những mục tiêu chung. Mục đích của chi NSNN là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Căn cứ để thực hiện chi NSNN là dự toán ngân sách hàng năm, các quy định của pháp luật và các định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách. Hoạt động chi NSNN không những duy trì và phát triển bộ máy hành chính mà còn là công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế vĩ mô đi theo đúng định hướng đã đề ra.

8 Các khoản chi này ở mỗi quốc gia có thể bao gồm các khoản chi chủ yếu sau: chi tiền lương và tiền công, chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho sự nghiệp và cho chi sửa chữa thường xuyên, chi cho quỹ dự trữ thường xuyên, chi trợ cấp và trợ giá. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nhiệm vụ chi thường xuyên mà nhà nước phải đảm nhận ngày càng tăng đã làm phong phú thêm nội dung chi thường xuyên của NSNN. Đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước Chi thường xuyên NSNN thường chiếm tỷ trọng tương đối lớn (khoảng 70%) trong tổng chi NSNN. Chính vì thế, hoạt động chi thường xuyên NSNN ảnh hưởng và tác động đến nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế.

Theo Lê Văn Ái và Hồ Xuân Hương (2011), hoạt động chi thường xuyên NSNN có các đặc điểm sau: Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên thường mang tính ổn định. Các chức năng vốn có của nhà nước như duy trì an ninh – quốc phòng hay tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội đều đỏi phải được thực thi cho dù có sự thay đổi về thể chế chính trị hay không. Để đảm bảo cho nhà nước thực hiện các chức năng này thì cần có nguồn vốn từ NSNN cung cấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ