MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nhiều sản phẩm thường được sử dụng trong hộ gia đình có chứa chất độc hại như: pin, acquy, sơn, thuốc tẩy,. Những sản phẩm này sẽ trở thành chất thải nguy hại hộ gia đình (CTNH HGĐ) khi chúng không còn đư ợc sử dụng nữa. Cũng như các loại CTNH khác, CTNH hộ gia đình cũng có các đ ặc tính độc hại như dễ cháy nổ, ăn mòn, lây nhiễm, …và vì đư ợc sử dụng trong các hộ gia đình nên CTNH HGĐ còn có đ ặc điểm là phân tán diện rộng, tiếp xúc với nhiều người.
Nếu các loại chất thải này không được kiểm soát chặt chẽ, chúng sẽ tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ con người. Tuy nhiên, thông tin về CTNH HGĐ cũng như các s ản phẩm chứa chất độc hại trong hộ gia đình chưa được phổ biến đầy đủ đến người dân. Trên thực tế, người dân vẫn thải bỏ chung rác sinh hoạt với CTNH HGĐ, việc này gây nhiều khó khăn cho công tác thu gom và xử lý loại hình chất thải này. Trong đợt khảo sát thí điểm tại 10 hộ dân thuộc lô 11, cư xá Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh để xác định khối lượng và tỷ lệ CTNH HGĐ có trong rác, kết quả cho thấy tỷ lệ CTNH HGĐ trong rác sinh hoạt vào khoảng 0,78%.
Đồng thời mức độ và đặc tính nguy hại của các loại CTNH HGĐ đã đư ợc xác định rõ trong đ ề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) “Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất thải nguy hại hộ gia đình”. Trên cơ sở khoa học của các đề tài nghiên cứu trước, việc đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại trong rác sinh hoạt trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, vì thời gian có hạn nên việc nghiên cứu sẽ được tập trung thực hiện tại quận Bình Thạnh. Kết quả nghiên cứu từ đề tài này sẽ giúp các cơ quan chức năng đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng theo hướng phát triển bền vững. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Đề xuất các giải ph áp có cơ sở khoa học và mang tính thực tiễn cao để quản lý CTNH HGĐ tại địa phương.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU • Địa điểm: Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ CHí Minh. 5 • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn nguy hại từ hộ gia đình. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU • Tổng quan tài liệu về vấn đề CTNH HGĐ. • Khảo sát, tìm hiểu thực tế.
- Lập phiếu điều tra, đánh giá nhận thức của người dân về CTNH HGĐ. - Tiến hành khảo sát, đo đạc trên thực địa. - Điều tra, đánh giá hiện trạng quản lý của chính quyền địa phương. • Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải nguy hại hộ gia đình.
- Nhận xét về mức phát thải. - Nhận xét về tình hình quản lý. - Kết luận chung. • Đề xuất các giải pháp.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng. - Cải tạo mạng lưới thu gom. - Các biện pháp xử lý CTNH HGĐ. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU • Nguồn dữ liệu: - Các văn bản pháp luật về quản lý CTNH của các cơ quan chức năng như: Cục thông tin – Bộ TNMT, Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), Tổng cục BVMT, Bộ TNMT, … - Phương tiện thông tin đại chúng: Internet, sách, tạp chí chuyên ngành, báo cáo NCKH chuyên ngành, … • Lấy ý kiến của nhân dân từ phiếu thăm dò (câu hỏi mở và đóng).
• Thống kê và đánh giá số liệu thu thập được từ phiếu thăm dò. • Tham khảo ý kiến chuyên gia. • Tổng hợp thông tin: phân tích, nhận xét và kiến nghị. Ý NGHĨA THỰC TIỄN: Sau khi thực hiện, đề tài thu được các kết quả rất có ích như: 6 • Hệ thống hoá các tác hại của CTNH HGĐ lên sức khoẻ con người và môi trường.
• Hệ thống hoá cách nhận biết CTNH HGĐ. • Xây dựng bảng hướng dẫn cách sử dụng, lưu trữ, thải bỏ an toàn sản phẩm nguy hại trong hộ gia đình. • Các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng. • Các biện pháp quản lý, thu gom, xử lý CTNH HGĐ.
Với các kết quả trên, đề tài có một ý nghĩa xã hội rất lớn: • Về phía các cơ quan quản lý nhà nước: kết quả nghiên cứu của đề tài này là cơ sở khoa học giúp các ngành chức năng về quản lý môi trư ờng thiết lập các phương án kiểm soát chất thải nguy hại từ hộ gia đình một cách có hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng theo hướng phát triển bền vững nhất. • Về phía doanh nghiệp: giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng luật pháp về thông tin an toàn cho các sản phẩm có chứa thành phần nguy hại cuả mình. • Về phía người dân: được cung cấp thông tin về sử dụng, thải bỏ an toàn sản phẩm chứa chất nguy hại. 7 CHƯƠNG 2 CHẤT THẢI NGUY HẠI HỘ GIA ĐÌNH 2.
KHÁI NIỆM VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI HỘ GIA ĐÌNH Theo Luật Bảo vệ Môi trường 2005, một chất thải được xác định là CTNH khi chúng có chứa một hoặc toàn bộ các yếu tố như: độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác, hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người. CTNH có thể tồn tại ở dạng như rắn, lỏng, bùn, khí hoặc dạng khác. Ngoài ra, theo TCVN 7629 : 2007 thì CTR NH là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác. Tại Việt Nam, khái niệm CTNH HGĐ chưa được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật.
Do đó để xác định CTNH HGĐ ta có thể tham khảo định nghĩa của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), theo đó các sản phẩm thường được sử dụng trong hộ gia đình có ch ứa các thành phần nguy hại (hazardous substances) sẽ trở thành CTNH HGĐ khi chúng bị thải bỏ. CTNH HGĐ có thể có một hoặc toàn bộ các đặc tính nguy hại như: cháy nổ, ăn mòn, gây ngộ độc hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người. Căn cứ vào định nghĩa trên thì CTNH HGĐ có ngu ồn gốc từ các sản phẩm chứa chất nguy hại được sử dụng trong hộ gia đình, do đó các đ ặc tính của sản phẩm chứa chất nguy hại cũng chính là đặc tính của CTNH HGĐ. HCM, nguồn phát sinh CTNH lớn nhất là từ sản xuất công nghiệp chiếm 80% khối lượng CTNH [8].
Theo luật môi trường năm 2005 và luật Hoá chất 2007, nguồn này được quy định rõ ràng là do cơ s ở sản xuất phải chịu trách nhiệm có giải pháp thu gom, xử lý. Còn CTNH từ hộ gia đình thì hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể quản lý cũng như phương thức kiểm soát như thế nào. TÁC HẠI CỦA CHẤT THẢI NGUY HẠI HỘ GIA ĐÌNH LÊN S ỨC KHOẺ CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG Trong mỗi gia đình đ ều tồn tại nhiều loại hình chất thải như: sơn, thuốc diệt trừ các loài gây hại, dầu nhớt, mỹ phẩm, chất tẩy rửa, pin, bóng đèn, đồ điện tử,. CTNH HGĐ gây hại cho sức khoẻ và sự sống của con người, ở mọi lứa tuổi.
Các chất thải này đem đến nhiều mối nguy hại như sau: 8 • Đầu tiên, chúng ta có thể bị phơi nhiễm (qua tiếp xúc trực tiếp, đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá) với những chất độc còn tồn dư bên trong chúng. • Kế đến, CTNH HGĐ khi thải vào cống rãnh mà chưa đư ợc xử lý sẽ làm ô nhiễm nguồn nước. • Cuối cùng, khi thải bỏ chung với rác sinh hoạt, các chất thải có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân vệ sinh (CNVS), hoặc chúng có thể diễn ra các phản ứng hoá học trong xe chở rác hoặc trong lòng bãi rác. Cụ thể, theo Cục BVMT Hoa Kỳ (EPA), khi chúng ta không sử dụng đúng cách, một số đồ gia dụng có thể rất nguy hiểm cho những người mắc bệnh tim.
Những hơi trong các dung môi sơn, chẳng hạn như chất cồn khoáng chất, turpentine, methanol, và xylene, làm áp lực vào phổi và tim, gây ra chứng tim đập không đều. Bên cạnh đó, các thuốc diệt trừ các loài gây hại (thuốc diệt muỗi, kiến, chuột, cỏ dại, nấm, …) và chất tẩy rửa ở các dạng như bột, chất đặc dạng keo, chất lỏng, hoặc phun xịt, là những hoá chất rất mạnh được sử dụng trong nhà hoặc ngoài vườn để lau chùi các bề mặt và diệt các loài sâu bọ, côn trùng gây hại. Khi tiếp xúc thường xuyên ở liều lượng cao, người sử dụng có thể bị phơi nhiễm và dẫn đến: • Các chứng đau đầu. • Chóng mặt.
• Các chứng co rút cơ bắp. • Sức khoẻ suy giảm. • Khi ngộ độc (do uống phải, hoặc hít trực tiếp) sẽ xảy ra các triệu chứng như rối loạn nhịp tim. Trong trường hợp nghiêm trọng, việc tiếp xúc ảnh hưởng đến chứng nhồi máu cơ tim hoặc gây tử vong.
Nếu không có kế hoạch kiểm soát chặt chẽ, các sản phẩm trên sẽ đem vào môi trường các thành phần nguy hại có trong chúng. Ngoài ra, theo thông tin của Bộ TNMT Việt Nam [3], các vật liệu độc hại có trong rác thải của ngành điện tử chủ yếu là các kim loại nặng như chì, th ủy ngân, crom trong các bản mạch, pin và các bóng đèn điện tử. Trong các tivi và các bóng đèn điện tử có chứa trung bình 0,8 g chì. Thủy ngân từ chất thải điện tử là nguồn ô nhiễm thủy ngân chính trong rác thải đô thị.
Đa số các kim loại và các hợp chất kim loại trong CTR điện tử bán dẫn đều có khả năng gây ra các đột biến làm rối loạn 9 quá trình trao đ ổi vật chất và năng lượng gây ra những khuyết tật trong các tế bào và cơ thể sống, dẫn đến một số bệnh viêm nhiễm, ung thư, rối loạn nội tiết. Nếu bị nhiễm độc thuỷ ngân, có thể mắc các chứng bệnh đau bụng, nôn mửa, thiếu máu. Ngoại trừ một số hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, tạo mùi, dễ phát hiện bằng cảm quan để phòng tránh, đa số các độc tố trong chất thải rắn điện tử không mùi vị nên khó đề phòng kiểm soát. Sau đây là bảng thống kê các tác hại của các sản phẩm chứa chất nguy hại lên sức khoẻ con người và môi trường.1: Tác hại của các sản phẩm chứa chất nguy hại.