Chương 1 TỎNG QUAN 1. Đất đai và quản lý Nhà nước về đất đai 1. Khai niệm Về mặt kinh tế, đất đai là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động, đất là mặt bang phát triển kinh tế quốc dân. - “Dat đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” (Luật Đất đai, 2003).
- Theo Chu Văn Thỉnh, (2000) “Đất đai là một tổng thể vất chất, cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thê vất chất đó”. - Dat đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thang đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyền, lớp phủ thé nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; Theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài người (Đặng Thái Sơn, 2002). Đặc điểm của đất đai Đất đai có những đặc điểm sau: - Đặc điểm hình thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người; là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động; là điều kiện tự nhiên của lao động: chỉ tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. - Tính hạn chế về số lượng: Dat đai là tài nguyên hạn chế, điện tích đất bị ĐIỚI hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu.
- Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng, các tính chất lý hoá học (do được hình thành bởi các điều kiện và chế độ sử dụng khác nhau). - Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là không thể thực hiện được. - Tính cố định về vị trí: Dat đai hoàn toàn cố định vị trí, trong sử dụng không thé di chuyền vị trí từ chỗ này sang chỗ khác. - Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu không lệ thuộc tác động phá hoại của thời gian.
Nếu biết sử dụng hợp lý, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng mà ngược lại nó có thé tăng tính san xuất. Phân loại đất đai Theo Luật Đất đai năm 2013 thì căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân thành 3 nhóm: Dat nông nghiệp, Dat phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. - Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm gồm dat trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Dat trồng cây lâu năm; Dat rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ: Dat rung dac dung; Đất nuôi trồng thủy sản; Dat làm muối; Đất nông nghiệp khác. - Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đất XD trụ sở cơ quan; Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; Đất xây dựng công trình sự nghiệp; Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; Dat cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; Dat nghĩa trang, nghĩa địa; Dat sông, ngòi, kênh và mặt nước chuyên dùng; Đất PNN khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất, đất xây dựng kho và nhà chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không dành mục đích kinh doanh và công trình đất không gắn liền với đất ở.
- Nhóm đất chưa sử dụng gồm: Các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng. Vai trò của đất đai Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong nên kinh tế thị trường, đất đai là nguồn vốn to lớn của đất nước, đất đai tạo ra nguồn thu đáng ké từ hoạt động kinh tế trên đất vì đó là đầu vào không thé thiếu được của mọi hoạt động kinh tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đất đai càng trở thành một nguồn vốn quan trọng tạo ra tiềm lực phát triển đất nước. Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước; QSDĐ là hàng hoá đặc biệt. Chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai Chủ thé của quan hệ pháp luật đất dai là các chủ thé dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật mà tham gia vào một quan hệ pháp luật dat đai dé hưởng quyền và làm nghĩa vụ trong quan hệ đó. Chủ thé của quan hệ pháp luật đất đai gồm có Nha nước và người sử dụng đất.
Nhà nước tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai với tư cách là đại điện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Nhà nước tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua các co quan nhà nước. Chủ thé sử dụng đất là người đang thực tế chiếm hữu đất dai do Nha nước giao, cho thuê, cho phép nhận quyền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Các chủ thé sử dung đất này gồm các tổ chức trong nước; cá nhân, hộ gia đình trong nước; cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tô chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (Điều 5 Luật Đất đai năm 2013).
Chủ thể đang thực tế chiếm hữu đất đai được phân chia thành: chủ thể đã có giấy tờ hợp pháp về quyên sử dụng đất (đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng dat); chủ thé có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận); và chủ thể không đủ giấy tờ theo quy định nhưng được công nhận quyền sử dụng đất. Quản lý Nhà nước về đất đai 1. Khái niệm Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước về đất đai.
Đó là các hoạt động trong việc theo dõi và quản lý tình hình sử dụng đất đai, phân bố đất đai vào các mục dich sử dụng đất theo chủ trương của Nhà nước, kiểm tra và giám sát quá trình sử dụng đất. Từ các hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai như trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về đất đai như sau: Quản lý nhà nước về đất dai là tông hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thấm quyền dé thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007). Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai “+ Đảm bảo sự quản ly tập trung và thống nhất của Nhà nước Đất đai là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân - mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực dat dai nói riêng, van đề này được quy định tại Điều 4 Luật Dat dai 2013: “Dat đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước dai diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
s* Đảm bảo sự kết hợp hai hòa về quyền lợi Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, QSDĐ đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai. QSDĐ đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất dai hoặc chủ SDD khi được chủ sở hữu chuyền giao QSDD. Từ khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, quyền sở hữu đất đai ở nước ta thuộc về toàn dân, do Nhà nước đại điện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, còn quyền SDD vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử đụng cụ thể. Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà thực hiện QSDĐ đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDD và hưởng lợi từ việc thu các loại thuế liên quan đến đất đai, thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ.
từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai. Vẫn đề này được thể hiện ở Điều 5, 17, 20 Luật Đất đai năm 2013 “Nhà nước trao QSDĐ cho người sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê dat; công nhận QSDĐ đối với người đang sử dụng én định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”. s* Tiết kiệm và hiệu qua Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế. Thực chất, QLĐĐ cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên phải tuân theo nguyên tắc này.
Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc: - Xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao. - Quản lý và giám sát việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Luật Đất đai năm 2013 quy định 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai.