Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý rừng và một số giải pháp quản lý bền vững hệ thống rừng trồng trong dự án Phát triển ngành lâm nghiệp ở xã Hiệp Thuận, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. 1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về rừng và rừng trồng Hiện nay có hơn 250 định nghĩa về rừng. Theo định nghĩa của Tổ chức Nông lương thế giới, rừng là những khu đất có diện tích trên 0,5ha, có tỷ lệ cây gỗ che phủ trên 10% và trước đó không được sử dụng làm đất nông nghiệp hay đô thị. Rừng được xác định bởi sự hiện diện của cây gỗ và không có sự chiếm ưu thế của các hình thức sử dụng đất khác.
Cây có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5m. Những khu vực rừng trồng chưa đạt được mật độ tán 10% hay chiều cao cây 5m cũng như những khu vực tạm thời chưa có sinh khối do các tác động của con người hay các nguyên nhân tự nhiênmà dự kiến sẽ được tái sinh. Khái niệm này còn bao gồm các vườn ươm cây rừng và các rừng giống cấu thành một phần không thể tách rời của rừng; đường lâm sinh; đường ranh cản lửa và các khu vực mở có diện tích nhỏ khác; rừng trong các vườn quốc gia, khu bảo tồn và các khu vực phòng hộ khác như các khu vực có ý nghĩa về mặt khoa học, lịch sử, văn hóa và tinh thần khác; vành đai cây cản gió và vành đai bảo vệ có diện tích trên 0,5ha và chiều rộng trên 20m; rừng trồng trước đây được sử dụng cho mục đích nông nghiệp gồm rừng trồng cao su, gỗ sồi. Rừng không bao gồm các loài cây được trồng để sản xuất nông nghiệp, ví dụ cây ăn quả và các hệ thống nông lâm kết hợp [25].
Theo định nghĩa trong Nghị định thư Kyoto, rừng là một khu vực có diện tích từ 0.5 đến 1 ha trở lên với tỷ lệ che phủ tán của cây gỗ từ 10-30%, trong đó “cây gỗ” được định nghĩa là cây có khả năng cao từ 2-5m trở lên [32]. Ở Việt Nam, theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004“Rừng là hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng và các yếu tố khác, trong đó thành phần chính là cây gỗ, tre, nứa, họ dừa có chiều cao trên 5 mét đối với hệ thực vật núi đất hoặc trên 2 mét đối với các hệ thực vật khác đạt độ tàn che từ 0,1 trở lên; diện tích liền vùng từ 0,5 héc-ta trở lên” [18]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rừng trồng là rừng được hình thành do con người trồng, gồm rừng trồng mới trên đất chưa có rừng; rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có và rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác. Ở Việt nam, rừng tự nhiên cũng như rừng trồng hiện nay đều được phân chia làm 3 loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất [3].
Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, việc phân chia rừng chỉ cần chia thành hai loại là rừng phòng hộ và rừng sản xuất để thuận tiện cho công tác quản lý và bảo vệ rừng một cách hiệu quả. Đã là rừng phòng hộ thì không được chuyển đổi, khai thác công nghiệp mà phải tuyệt đối bảo vệ. Còn đối với rừng sản xuất, cần có các cơ chế phù hợp để phát huy tối đa năng suất và hiệu quả kinh tế của mục đích sử dụng. Khái niệm về Quản lý rừng và Quản lý rừng bền vững 1.Quản lý rừng Quản lý rừng là một mảng trong lĩnh vực lâm nghiệp vềquản trị, kinh tế, pháp lý và xã hội cũng như khoa học và kỹ thuật (ví dụ như vấn đề lâm sinh, phòng hộ và các quy định đối với rừng).
Việc quản lý rừng có thể dựa vào hoạt động bảo tồn, kinh tế học hay kết hợp cả hai. Các kỹ thuật bao gồm khai thác gỗ, trồng và trồng lại các loài cây, đường lâm sinh và phòng chống cháy rừng Khoa học về quản lý rừng đã được hình thành từ cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ 19. Ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục; khi gỗ có giá trị thương mại trao đổi lớn. Chủ rừng muốn có nhiều lãi suất bằng cách nâng cao năng suất, sản lượng gỗ trên một đơn vị diện tích; trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật tạo rừng, nuôi dưỡng, khai thác, thương mại dần dần trở thành các môn khoa học được nghiên cứu áp dụng.
Suốt thế kỷ 19 và gần hết thế kỷ 20, khoa học quản lý rừng luôn nhằm mục tiêu sản lượng ổn định, nghĩa là năm sau không ít hơn năm trước; từ đó các lý thuyết về điều chỉnh sản lượng theo diện tích, theo cấp năng suất để hàng năm có thu hoạch gỗ, thu nhập đồng đều đã được xây dựng, phát triển cho môn Quản lý /Quy hoạch rừng. Việt Nam, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo ngành Lâm nghiệp tăng cường nghiên 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu và áp dụng các thành tựu của khoa học quản lý rừng, nhằm giữ vững sản lượng khai thác ổn định và không lạm dụng vào nguồn tài nguyên rừng [15].Quản lý rừng bền vững Khái niệm Quản lý rừng bền vững bắt nguồn từ Các nguyên tắc Lâm nghiệp và Chương 11 của Chương trình nghị sự 21 (UNCED). Mục tiêu của của Các nguyên tắc lâm nghiệp là góp phần quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tất cả các loại rừng và đem lại cho rừng những chức năng và cách sử dụng đa dạng và toàn diện. Nguyên tắc 2b nêu rõ “Các nguồn tài nguyên rừng và đất rừng cần được quản lý bền vững để đáp ứng được các nhu cầu về kinh tế, sinh thái, văn hóa và tinh thần của các thế hệ hiện tại và tương lai.” Cụ thể hơn “Những nhu cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ từ rừng, như gỗ, sản phẩm từ gỗ, nước, thực phẩm, thức ăn cho gia súc, thuốc, chất đốt, nơi ở, việc lại, giải trí, sinh cảnh cho động vật hoang dã, đa dạng về cảnh quan, bể chứa và dự trữ các-bon và nhu cầu đối với các lâm sản khác” và “Cần thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo vệ rừng khỏi các tác động xấu do ô nhiễm gồm ô nhiễm không khí, sâu bệnh hại, nhằm duy trì đầy đủ giá trị của rừng”.
Khái niệm Quản lý rừng bền vững tiếp tục phát triển kể từ năm 1992 thông qua đối thoại chính sách lâm nghiệp quốc tế giữa Kênh liên chỉnh phủ về rừng (IPF), Diễn đàn liên chính phủ về rừng (IFF) và Diễn đàn của LHQ về rừng (UNFF) và thông qua một loạt các sáng kiến vùng sinh thái và do các quốc gia chủ trì nhằm chuyển khái niệm này thành thực tế - gồm việc xây dựng các tiêu chí và chỉ số quản lý rừng bền vững do các tổ chức quốc tế hỗ trợ như FAO, Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO), Chương trình môi trường của LHQ (UNEP) và các thành viên khác của Đối tác lâm nghiệp. Theo định nghĩa năm 2017 của Liên Hợp Quốc,“Quản lý rừng bền vững là một ý tưởng năng động và tiến bộ nhằm duy trì và tăng cường giá trị kinh tế, xã hội và môi trường của tất cả các loại rừng, vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai. Quản lý rừng bền vững có 7 yếu tố gồm: (i) quy mô tài nguyên rừng; (ii) đa dạng sinh học của rừng; (iii) sức khỏe và khả năng tồn tại (vitality) của rừng; (iv) 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các chức năng sản xuất của tài nguyên rừng; (v) các chức năng phòng hộ của tài nguyên rừng; (vi) các chức năng kinh tế-xã hội của tài nguyên rừng; và (vii) khung pháp lý, chính sách và thể chế” [32]. Theo Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO), “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gâyra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”[15].
Theo tiến trình Helsinki, “Quản lý rừng bền vững là quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác”[15]. Như vậy, có thể hiểu Quản lý rừng bền vững là cách quản lý đảm bảo được các lợi ích lâu dài, bền vững về kinh tế, xã hội, và môi trường cho con người cả ở thế hệ hiện tại và các thế hệ của con cháu trong tương lai. Nửa cuối của thế kỷ 20, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, môi trường, con người chờ đợi ở rừng nhiều hơn nữa các khả năng cung ứng không chỉ về gỗ, lâm sản ngoài gỗ mà còn các chức năng bảo vệ môi trường như: phòng hộ nguồn nước, chống thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục thẩm mỹ, môi trường v. môn Quản lý rừng đã giao thoa với nhiều môn khoa học khác và cũng do vậy mang nhiều tên khác nhau như: Quản lý rừng, Điều chế rừng, Quy hoạch rừng, Thiết kế kinh doanh rừng.
Ở Việt Nam, những năm 80 – 90 của thế kỷ 20, các đơn vị quản lý rừng tự nhiên (Lâm trường, các đơn vị làm kinh tế lâm nghiệp.) đều phải xây dựng Phương án điều chế rừng (Kế hoạch quản lý). Tuy nhiên, các phương án điều chế rừng hay quy hoạch rừng vẫn tập trung vào mục tiêu lợi dụng tài nguyên rừng là chính, tất cả các hoạt động quản lý rừng đều xoay 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quanh mục tiêu khai thác gỗ, phát triển kinh tế đất nước nói chung và của đơn vị nói riêng.