MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công ƣớc Đa dạng sinh học (ĐDSH) đã xác định các khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng nhất trong bảo tồn ĐDSH (Công ƣớc Đa dạng sinh học, 1992). Công ƣớc quy định các nƣớc có trách nhiệm thành lập hệ thống các KBT và quản lý hiệu quả các tài nguyên sinh học bên trong các KBT đó. Theo đó, Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc thành lập, phát triển và quản lý hệ thống KBT, tạo ra những điều kiện cho hệ thống KBT phát huy có hiệu quả chức năng bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ĐDSH, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2013).
Trong vài thập kỷ qua, các KBT trên thế giới đang có xu hƣớng tăng cả về số lƣợng và diện tích, Việt Nam cũng nằm trong xu hƣớng đó. Năm 2005, nƣớc ta có số lƣợng các KBT (rừng đặc dụng) là 126 khu thì đến năm cuối năm 2017, số lƣợng này tăng lên 169 khu với diện tích khoảng 2. Bên cạnh hệ thống KBT trong nƣớc còn có nhiều khu đạt các tiêu chí quốc tế bao gồm 09 khu Ramsar, 09 khu dự trữ sinh quyển, 08 khu di sản ASEAN, 02 khu di sản thiên nhiên thế giới. Mặc dù Việt Nam đã đạt đƣợc một số thành tựu tuy nhiên công tác quản lý KBT hiện nay vẫn còn gặp không ít khó khăn, vƣớng mắc, nhƣ: việc chuyển đổi sử dụng đất, mặt nƣớc thiếu cơ sở khoa học dẫn đến việc mất hay phá vỡ các HST và các sinh cảnh tự nhiên; tiêu thụ tài nguyên ngày càng nhiều và khai thác quá mức tài nguyên sinh vật; ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) (mực nƣớc biển dâng, nhiệt độ tăng…); cháy rừng cũng nhƣ sự xâm nhập của các loài sinh vật ngoại lai… KBT thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông đƣợc Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Hòa Bình ra Quyết định thành lập số 2714/QĐ-UB ngày 28 tháng 12 năm 2004, nằm giáp với KBT Pù Luông của tỉnh Thanh Hóa về phía Tây và Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng tỉnh Ninh Bình về phía Nam.
Ban quản lý (BQL) KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông đã có nhiều kết quả tốt trong công tác bảo vệ rừng và ĐDSH, đặc biệt có sự tham gia mạnh mẽ của ngƣời dân sinh sống quanh khu vực. Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, thời gian qua tại KBT vẫn còn xảy ra tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép, nguyên nhân do sức ép của sự gia tăng dân số, đời sống của nhân dân còn khó khăn nên họ coi rừng là nguồn sống và sử dụng tài 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên bừa bãi thông qua hàng loạt các hoạt động sinh kế. Những hoạt động trên đã làm suy thoái tài nguyên, thất thoát ĐDSH, ảnh hƣởng tới sự phát triển bền vững của KBT. Đặc biệt là do KBT không có vùng đệm, nên việc tổ chức triển khai một số hoạt động tuyên truyền cho ngƣời dân hoặc phối hợp với xã triển khai các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh khó thực hiện.
(Theo trang web: http://www. Để đánh giá sự phát triển bền vững ở một vùng hay quốc gia, các nhà khoa học đã đi sâu vào nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu trên các lĩnh vực môi trƣờng, kinh tế - xã hội, tài nguyên sinh vật. Tùy mỗi đối tƣợng khác nhau, các chỉ tiêu này cũng khác nhau và có độ quan trọng khác nhau. Các bộ chỉ tiêu có thể đƣợc xây dựng trên cơ sở bộ chỉ tiêu của quốc gia, địa phƣơng, các nghiên cứu đã có hay các hƣớng dẫn của Liên hợp quốc (LHQ).
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, học viên chọn đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp tăng cƣờng quản lý bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá đƣợc mức độ bền vững trong quản lý KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông - Căn cứ kết quả đánh giá, đề xuất giải pháp tăng cƣờng quản lý KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông, tỉnh Hoà Bình. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là công tác quản lý KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông, tỉnh Hoà Bình, trong đó nhấn mạnh vào việc đề xuất bộ tiêu chí nhằm đánh giá mức độ bền vững trong quản lý tại KBT. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện luận văn từ tháng 3/2017 đến tháng 11/2018.
Các số liệu thứ cấp trong giai đoạn 5 năm trở lại đây; Số liệu điều tra sơ cấp trong năm 2017 – 2018. Phạm vi không gian: KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ luông, tỉnh Hoà Bình. Cụ thể: Tham vấn cán bộ Sở ban ngành Sở Tài nguyên và Môi trƣờng (TN&MT) tỉnh Hòa Bình; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Hòa Bình; Ban quản lý (BQL) KBT; Phỏng vấn ngƣời dân sống trong và ngoài KBT. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Câu hỏi nghiên cứu - Nội hàm của quản lý bền vững KBT và đƣợc thể hiện ở những mặt nào? - Làm thể nào (phƣơng pháp nào) để đánh giá đƣợc mức độ bền vững trong công tác quản lý bảo tồn? - KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông có đƣợc quản lý bền vững hay không? - Giải pháp nào để tăng cƣờng mức độ bền vững trong quản lý KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông? 6. Ý nghĩa của đề tài Đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình” sẽ là đánh giá đầu tiên về công tác quản lý tại KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông dựa trên các tiêu chí đề xuất. Qua đó, có thể xác định KBT đang phát triển theo hƣớng nào, cần tập trung vào những khía cạnh nào để đạt đƣợc sự PTBV? Đề tài làm cơ sở góp phần việc xây dựng chính sách, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý KBT ở Việt Nam và cũng là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu chính sách giải pháp tăng cƣờng quản lý bền vững KBT. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm liên quan a. Khu bảo tồn thiên nhiên Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) là mục tiêu cơ bản của khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) và đƣa ra định nghĩa: “KBT là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển đƣợc khoanh vùng để bảo vệ ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, đƣợc quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN, 1994). Luật Đa dạng sinh học Việt Nam năm 2008 đƣa ra định nghĩa: “KBT là khu vực địa lý đƣợc xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn ĐDSH” (Luật Đa dạng sinh học, 2008).
Hệ thống phân hạng KBT quốc tế của IUCN hiện hành đƣợc công bố năm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978. Hệ thống phân hạng 1994 có tất cả 6 phân hạng: Bảng 1. Phân loại khu bảo tồn Các kiểu KBT Mô tả Bảo tồn tự nhiên nghiêm ngặt và bảo tồn tính (I) Khu Dự trữ tự nhiên hoang dã Bảo vệ HST và nguồn lợi ĐDSH, đƣợc sử dụng (II) Vƣờn quốc gia vào hoạt động vui chơi giải trí và du lịch Bảo vệ một số yếu tố tự nhiên, văn hóa có giá trị (III) Khu kỳ quan thiên nhiên đặc biệt Bảo vệ điều kiện của nơi cƣ trú đặc biệt của các (IV) Khu bảo tồn loài, nơi cƣ trú loài sinh vật có giá trị Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên có giá trị thẩm mỹ (V) Khu bảo tồn cảnh quan cao, phục vụ du lịch giải trí (VI) Khu bảo tồn tài nguyên thiên Bảo vệ nguồn lợi tự nhiên bằng các phƣơng pháp nhiên quản lý Nguồn: IUCN, 1994 b. Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) năm 2016, 80% khu rừng đặc dụng đã thành lập ban quản lý (BQL) (trừ các khu rừng nghiên cứu thực 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệm khoa học) (Bộ NN&PTNT, 2016).
Quản lý rừng đặc dụng đƣợc phân cấp khác nhau, phụ thuộc vào từng loại rừng đặc dụng, thông qua Hạt kiểm lâm và các Ban quản lý rừng đặc dụng. Trong 33 vƣờn quốc gia hiện nay thì có 06 vƣờn quốc gia trực thuộc Bộ NN&PTNT quản lý, số còn lại trực thuộc tỉnh. Theo Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính phủ, BQL khu rừng đặc dụng là đơn vị sự nghiệp có thu, bên cạnh việc đƣợc đầu tƣ và đảm bảo tài chính cho các hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc hay tiếp nhận hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc thì còn có thể khai thác từ nguồn thu cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng. Các hoạt động quản lý KBT ở Việt Nam đƣợc xây dựng trong Kế hoạch quản lý và đƣợc các cấp thẩm quyền phê duyệt, nhìn chung có một số nội dung cơ bản nhƣ sau: • Bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đặc thù, quan trọng và các loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ; • Nghiên cứu khoa học và quan trắc ĐDSH; • Tuyên truyền, giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trƣờng và bảo tồn ĐDSH cho các bên liên quan, đặc biệt cộng đồng địa phƣơng; • Phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, các mô hình sinh kế nâng cao đời sống cho cộng đồng vùng đệm; • Nâng cao năng lực quản lý và tăng cƣờng nguồn lực bảo tồn.
Theo các báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch quản lý hàng năm của KBT thì hầu hết các hoạt động quản lý đều đƣợc triển khai đều có những hiệu quả nhất định. Quá trình triển khai và thực hiện các quy định pháp luật về quản lý rừng đặc dụng đã đạt đƣợc nhiều kết quả quan trọng, hệ thống rừng đặc dụng đã đƣợc củng cố và phát huy tốt vai trò của mình (Bộ NN&PTNT, 2016).