Tổng quan nghiên cứu
Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông được thành lập theo Quyết định số 2714/QĐ-UB ngày 28 tháng 12 năm 2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích tự nhiên đạt 15.105,79 ha. Nằm trải dài trên địa bàn các xã Tự Do, Ngọc Sơn, Ngọc Lâu, Tân Mỹ thuộc huyện Lạc Sơn và các xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Ngổ Luông thuộc huyện Tân Lạc, khu bảo tồn sở hữu tỷ lệ che phủ rừng ấn tượng lên tới 88,64% tương đương 13.054,84 ha đất có rừng. Đây là hành lang sinh cảnh đá vôi huyết mạch nối liền Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông và Vườn quốc gia Cúc Phương, lưu giữ kho tàng đa dạng sinh học vô cùng phong phú với 667 loài thực vật bậc cao có mạch và 455 loài động vật có xương sống.
Tuy nhiên, công tác quản lý tại khu bảo tồn đang đối mặt với nhiều áp lực nghiêm trọng xuất phát từ hoạt động dân sinh. Thực tế ghi nhận trên 98% dân số địa phương là đồng bào dân tộc Mường với tập quán canh tác nương rẫy, chăn thả gia súc tự do trong rừng và phụ thuộc lớn vào nguồn lâm sản phụ. Hằng năm, khoảng 33% số hộ dân vẫn rơi vào tình trạng thiếu lương thực trong các tháng giáp hạt. Thêm vào đó, việc khu bảo tồn chưa được quy hoạch vùng đệm chính thức đã tạo nên những khoảng trống pháp lý, gây khó khăn lớn cho công tác tuần tra và kiểm soát vi phạm tài nguyên.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học bền vững của tác giả Hoàng Thị Hiền, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trương Xuân Lam tại Khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội (2019), tập trung giải quyết bài toán cân bằng giữa bảo tồn sinh cảnh tự nhiên và phát triển sinh kế cộng đồng. Đề tài hướng tới mục tiêu thiết lập bộ tiêu chí định lượng để đánh giá mức độ bền vững trong quản lý khu bảo tồn giai đoạn 2012–2018, từ đó cung cấp căn cứ khoa học vững chắc nhằm hoàn thiện chính sách quản lý rừng đặc dụng tại tỉnh Hòa Bình và trên phạm vi toàn quốc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững theo Báo cáo Brundtland năm 1987 của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), định nghĩa sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai thông qua việc tích hợp hài hòa 3 trụ cột: sinh thái, kinh tế và xã hội.
Trong bối cảnh quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, luận văn kế thừa khung đánh giá hiệu quả quản lý của Ủy ban Thế giới về các Khu vực được Bảo vệ thuộc Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN-WCPA) công bố năm 2000, kết hợp các công cụ quốc tế điển hình như:
- Công cụ theo dõi hiệu quả quản lý (METT) của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WB/WWF);
- Phương pháp đánh giá nhanh và xác định ưu tiên quản lý khu bảo tồn (RAPPAM) của WWF;
- Phương pháp tăng cường di sản (EOH) của UNESCO và Đại học Queensland;
- Tiêu chuẩn Danh lục Xanh các Khu bảo vệ và Bảo tồn (GLPCA) của IUCN ban hành năm 2016.
Nghiên cứu vận dụng mô hình liên kết đa chiều giữa các khái niệm chỉ thị (Indicator), chỉ số (Index) và thông số (Parameter) theo chuẩn mực của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2003) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2006). Trên cơ sở đó, quản lý khu bảo tồn bền vững được định lượng hóa thành 3 hợp phần then chốt: bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế nội tại gắn với cộng đồng, và ổn định - phát triển công bằng xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng đồng bộ các phương pháp tiếp cận liên ngành, tiếp cận hệ thống, tiếp cận dựa vào hệ sinh thái cùng nguyên tắc kết hợp từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up).
Về phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo quy hoạch, số liệu kiểm kê rừng, tài liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2012–2017 từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông và Ủy ban nhân dân các xã liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa và phỏng vấn bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu N = 71 đối tượng đại diện, bao gồm: 05 cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường, 06 cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Kiểm lâm Hòa Bình), 10 cán bộ thuộc Ban quản lý khu bảo tồn, cùng 50 người dân địa phương sinh sống tại các xã Tự Do, Ngọc Sơn, Ngọc Lâu và Ngổ Luông. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp phỏng vấn sâu được áp dụng để bảo đảm tính khách quan và đại diện cao cho các nhóm quyền lợi.
Về phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:
Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá gồm 14 tiêu chí cụ thể thuộc 9 nhóm tiêu chí, phân bổ đều trên 3 hợp phần (Đa dạng sinh học: 6 tiêu chí; Kinh tế: 3 tiêu chí; Xã hội: 5 tiêu chí). Toàn bộ tiêu chí được lượng hóa thông qua thang đo Likert 5 mức độ (Rất thấp, Thấp, Trung bình, Cao, Rất cao) và xử lý thống kê trên phần mềm Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đơn giản hóa các dữ liệu sinh thái - xã hội phức tạp thành những chỉ số định lượng trực quan, dễ dàng đối chiếu, so sánh và tích hợp trực tiếp vào quy trình hoạch định chính sách bảo tồn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả tổng hợp và phân tích thực trạng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông ghi nhận những phát hiện nổi bật trên cả ba phương diện:
Thứ nhất, về hợp phần bảo tồn đa dạng sinh học: Mặc dù độ che phủ rừng duy trì ở mức cao đạt 88,64% với 13.054,84 ha đất có rừng, chất lượng cấu trúc rừng đang biểu hiện sự suy thoái rõ rệt. Toàn bộ khu bảo tồn hoàn toàn không còn diện tích rừng giàu (0 ha, chiếm 0%). Rừng trung bình chỉ đạt 2.599,15 ha (chiếm 17,33%), trong khi rừng nghèo chiếm tỷ trọng lớn nhất với 6.343,24 ha (42,28%) và rừng phục hồi chiếm 3.849,22 ha (25,28%). Diện tích đất chưa có rừng là 2.050,95 ha. Về khu hệ sinh vật, khu bảo tồn ghi nhận 667 loài thực vật bậc cao có mạch (gồm 28 loài trong Sách đỏ Việt Nam, 9 loài trong Danh lục đỏ IUCN như Mun, Trai lý, Chò đãi, Đinh vàng) và 455 loài động vật có xương sống (gồm 54 loài trong Sách đỏ Việt Nam, 47 loài trong Danh lục đỏ IUCN như Voọc mông trắng, Vượn đen má trắng, Báo gấm).
Thứ hai, về hợp phần kinh tế sinh thái: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của 7 xã trong khu vực chỉ đạt 1.176,4 ha, tương đương 6,1% tổng diện tích tự nhiên, dẫn đến tình trạng thiếu đất canh tác trầm trọng. Hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng và du lịch trải nghiệm (trekking sông Bưởi, thác Mu) bắt đầu hình thành nhưng mới tập trung chủ yếu tại xã Tự Do, chưa tạo thành chuỗi giá trị liên kết bền vững trên toàn địa bàn.
Thứ ba, về hợp phần xã hội và thể chế quản lý: Cộng đồng cư dân với trên 98% là người Mường vẫn duy trì các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc như kiến trúc nhà sàn, nghề đan lát, dệt vải. Tuy nhiên, nguồn nhân lực quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn còn mỏng, thiếu hụt trang thiết bị chuyên dụng và chưa có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng với người dân vùng giáp ranh.
Thảo luận kết quả
Thảo luận sâu về các chỉ số đánh giá, điểm nghẽn lớn nhất trong công tác quản lý bắt nguồn từ mâu thuẫn nội tại giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên rừng và nhu cầu sinh kế cấp thiết của người dân địa phương. Việc hơn 42% diện tích là rừng nghèo phản ánh hậu quả kéo dài của lịch sử khai thác kiệt quệ và tập quán canh tác nương rẫy trước khi thành lập khu bảo tồn. Tình trạng chăn thả gia súc tự do (trung bình 2-3 con trâu/hộ, nhiều hộ nuôi 6-8 con) trực tiếp cản trở quá trình tái sinh tự nhiên của các loài thực vật quý hiếm như Nghiến, Trai, Đinh, Sến mật.
Dữ liệu phân tích đa chiều từ luận văn có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua mô hình ma trận đánh giá tổng hợp (radar chart) kết hợp biểu đồ phân tầng chất lượng rừng. Biểu đồ cấu trúc rừng thể hiện rõ sự áp đảo của phân khúc rừng nghèo và rừng phục hồi (tổng cộng chiếm hơn 67% diện tích có rừng), trong khi ma trận Likert 14 chỉ thị phản ánh sự chênh lệch rõ nét: điểm số bảo vệ rừng và nâng cao nhận thức cộng đồng đạt mức Khá - Cao, nhưng điểm số về phát triển sinh kế thay thế và nguồn lực cán bộ chỉ nằm ở mức Trung bình - Thấp.
So sánh với các khu bảo tồn lân cận trong cùng dải karst như Pù Luông hay Vườn quốc gia Cúc Phương, Ngọc Sơn – Ngổ Luông chịu áp lực nặng nề hơn do đặc thù không có ranh giới vùng đệm pháp lý độc lập. Điều này đòi hỏi công tác quản lý phải chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình bảo vệ cơ học, khép kín sang cơ chế đồng quản lý có sự tham gia thực chất của cộng đồng địa phương.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao tính bền vững trong quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông:
-
Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi sinh cảnh tự nhiên: Triển khai khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp làm giàu rừng trên 6.343,24 ha rừng nghèo và 3.849,22 ha rừng phục hồi; thiết lập tối thiểu 10 tuyến tuần tra bảo vệ rừng trọng điểm tại các khu vực phân bố loài quý hiếm thuộc xã Ngổ Luông, Ngọc Lâu và Tự Do; định kỳ giám sát các loài linh trưởng nguy cấp như Voọc mông trắng, Vượn đen má trắng theo khung thời gian 2020–2025. Cơ quan chủ trì thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình.
-
Đẩy mạnh phát triển kinh tế sinh thái và sinh kế bền vững cho vùng đệm: Mở rộng các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng (homestay, du lịch văn hóa, trải nghiệm thác Mu) từ xã Tự Do sang các xã Ngọc Sơn, Ngổ Luông; đặt mục tiêu nâng mức thu nhập từ dịch vụ du lịch và nghề thủ công truyền thống của các hộ tham gia thêm 25–30%/năm; đẩy nhanh tiến độ thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) và giao khoán bảo vệ rừng bền vững. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Lạc Sơn, Tân Lạc kết hợp các doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng dân cư.
-
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản địa gắn với ổn định xã hội: Thành lập các tổ bảo vệ rừng cộng đồng tại 100% thôn bản giáp ranh; lồng ghép tri thức bản địa của người Mường vào quy chế quản lý rừng; tổ chức các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức bảo tồn đạt tỷ lệ tham gia trên 85% số hộ dân mỗi năm. Đơn vị thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp với chính quyền cấp xã và già làng, trưởng bản.
-
Hoàn thiện thể chế quản lý và nâng cao năng lực bộ máy thực thi: Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm phê duyệt quy hoạch xác lập vùng đệm chính thức cho khu bảo tồn; bổ sung biên chế chuyên trách kiểm lâm và cán bộ kỹ thuật lâm sinh; tổ chức đào tạo, chuẩn hóa chuyên môn cho 100% cán bộ quản lý đạt chuẩn năng lực quốc gia trước năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, đặc biệt hữu ích đối với 4 nhóm đối tượng sau:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và các ban quản lý rừng đặc dụng: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình cùng ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc có thể sử dụng bộ 14 tiêu chí định lượng trong luận văn làm công cụ rà soát, đánh giá định kỳ hiệu quả quản lý bền vững tại đơn vị.
-
Giới nghiên cứu học thuật và giảng viên, sinh viên: Các nhà khoa học, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Khoa học bền vững, Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Biến đổi khí hậu có thể khai thác bộ dữ liệu sơ cấp, phương pháp luận tiếp cận liên ngành và quy trình ứng dụng thang đo Likert trong lượng hóa các vấn đề bảo tồn.
-
Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển: Các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế (như IUCN, WWF, CRES, PanNature) tìm thấy trong luận văn những luận cứ khoa học thực chứng về hệ sinh thái karst để thiết kế các dự án viện trợ bảo tồn nguồn gen, bảo vệ linh trưởng và phát triển sinh kế thích ứng.
-
Chính quyền địa phương và các nhà đầu tư du lịch sinh thái: Ủy ban nhân dân các huyện Lạc Sơn, Tân Lạc và các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch có cơ sở dữ liệu xác thực để hoạch định chiến lược phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm hài hòa với quy hoạch bảo vệ cảnh quan tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông giữ vị trí chiến lược trong bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia?
Khu bảo tồn là mắt xích sinh thái trọng yếu nằm ở trung tâm hành lang đá vôi Pù Luông – Cúc Phương, sở hữu 667 loài thực vật và 455 loài động vật có xương sống. Nơi đây bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi độc đáo và lưu giữ nhiều loài đặc hữu, nguy cấp toàn cầu như Voọc mông trắng, Vượn đen má trắng, cây Mun và Trai lý.
-
Đâu là rào cản lớn nhất đối với tính bền vững trong quản lý khu bảo tồn hiện nay?
Rào cản lớn nhất là khu bảo tồn chưa được quy hoạch vùng đệm chính thức, kết hợp với áp lực sinh kế từ cộng đồng địa phương có tỷ lệ thiếu lương thực mùa giáp hạt chiếm 33%. Tình trạng chăn thả gia súc tự do và việc trên 67% diện tích rừng thuộc loại nghèo hoặc phục hồi đang đe dọa trực tiếp đến khả năng tái sinh của hệ sinh thái.
-
Bộ tiêu chí đánh giá trong luận văn được xây dựng và lượng hóa như thế nào?
Bộ tiêu chí gồm 14 tiêu chí cụ thể thuộc 9 nhóm tiêu chí, bao quát 3 trụ cột: Đa dạng sinh học, Kinh tế và Xã hội. Toàn bộ tiêu chí được lượng hóa thông qua thang đo Likert 5 mức độ từ Rất thấp đến Rất cao, thu thập từ khảo sát thực địa trên cỡ mẫu N = 71 đối tượng thuộc các cơ quan quản lý, ban quản lý và người dân địa phương.
-
Giải pháp du lịch sinh thái cộng đồng đóng góp thế nào vào mục tiêu bảo tồn rừng?
Du lịch sinh thái cộng đồng (homestay, trải nghiệm văn hóa Mường, khám phá thác Mu) tạo nguồn thu nhập trực tiếp, giúp giảm áp lực khai thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã. Khi người dân có sinh kế ổn định từ du lịch, họ chuyển dịch từ vị thế tác động tiêu cực sang chủ thể tích cực tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường.
-
Luận văn đưa ra khuyến nghị gì để giải quyết khoảng trống pháp lý về vùng đệm?
Tác giả kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cùng các bộ ngành liên quan sớm phê duyệt quy hoạch ranh giới vùng đệm chính thức. Đồng thời, cần ban hành cơ chế phối hợp liên ngành liên huyện giữa Lạc Sơn và Tân Lạc, tăng cường phân cấp và thực thi quy chế đồng quản lý rừng có sự tham gia của người dân bản địa.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý bền vững khu bảo tồn thiên nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tiêu chuẩn quốc tế của IUCN và khung chính sách lâm nghiệp Việt Nam.
- Thiết lập thành công bộ công cụ định lượng gồm 14 tiêu chí thuộc 9 nhóm tiêu chí, áp dụng thang đo Likert để đánh giá khách quan thực trạng quản lý trên diện tích 15.105,79 ha của Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông.
- Nhận diện chính xác các nút thắt cốt lõi: tỷ lệ rừng giàu đạt 0%, rừng nghèo chiếm tới 42,28%, thiếu hụt vùng đệm pháp lý và áp lực sinh kế từ cộng đồng địa phương với hơn 98% là người Mường.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, đồng bộ về lâm sinh, kinh tế sinh thái, văn hóa bản địa và hoàn thiện thể chế quản lý với lộ trình thực thi rõ ràng giai đoạn 2020–2025.
- Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học có giá trị ứng dụng cao cho các nhà hoạch định chính sách, ban quản lý rừng đặc dụng và giới nghiên cứu phát triển bền vững.
Để phát huy tối đa giá trị thực tiễn của công trình, các cấp chính quyền và cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng đưa bộ tiêu chí vào quy trình giám sát thường niên, đồng thời đẩy mạnh liên kết công tư nhằm triển khai hiệu quả các mô hình sinh kế xanh tại địa phương.