CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ –³— 1. KHÁI NIỆM PHƯƠNG THỨC TDCT - VĂN BẢN PHÁP QUY ÁP DỤNG – UCP 600 v Khái niệm phương thức TDCT: Phương thức tín dụng chứng từ đã và đang được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng - letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng. Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng trong nội thương và ngoại thương.
Trong khuôn khổ của luận văn, Tôi chỉ đề cập đến phương thức tín dụng chứng từ được áp dụng trong hoạt động ngoại thương, theo đó, căn cứ yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng phát hành một thư tín dụng (Letter of Credit - L/C) cho nhà xuất khẩu hưởng. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để được thanh toán. Thuật ngữ "tín dụng - credit" ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là "tín nhiệm", chứ không phải để chỉ "một khoản cho vay" theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp nhà nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào, mà chỉ cho nhà nhập khẩu "vay" sự tín nhiệm của mình.
Ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu không ký quỹ, thì một khoản tín dụng chỉ thực sự xảy ra khi ngân hàng phát hành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 L/C tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ nhà nhập khẩu. Như vậy, thuật ngữ "tín dụng" trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản "tín dụng trừu tượng" bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà nhập khẩu. Qua phân tích cho thấy, trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn: - Là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hóa mà họ đã cung ứng. - Là người đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được số lượng và chất lượng hàng hóa phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mà mình bỏ ra.
Rõ ràng là, nhà nhập khẩu có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải xuất trình bộ chứng từ gửi hàng. Trong khi đó, nhà xuất khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng xuất khẩu nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như quy định trong L/C. v Văn bản pháp quy áp dụng - UCP 600 Hiện nay phương thức tín dụng chứng từ đang được áp dụng theo quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits - viết tắt là UCP) - Ấn bản số 600 do Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC) tại Paris ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ là một bộ các quy định về việc ban hành và sử dụng thư tín dụng (hay L/C). UCP được các ngân hàng và các bên tham gia thương mại áp dụng ở hơn 175 quốc gia.
Khoảng 15-20% thương mại quốc tế sử dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm. Về mặt lịch sử, các bên tham gia thương mại, đặc biệt là các ngân hàng, đã phát triển các kỹ thuật nghiệp vụ và các phương pháp sử dụng thư tín dụng trong tài chính-thương mại quốc tế. Các thông lệ này đã được Phòng thương mại quốc tế tiêu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 chuẩn hóa thông qua việc xuất bản UCP năm 1993 và tiếp theo đó là cập nhật nó qua các năm. ICC đã phát triển và đưa vào khuôn khổ UCP bằng các bản sửa đổi thường xuyên, bản trước đây là UCP500.
Còn hiện nay, trên thế giới đã phát hành ấn bản số 600 được xem là ấn bản mới nhất. Nó được xem là ấn bản hoàn thiện nhất cho đến thời điểm hiện tại. Tính chất của UCP Ø Là văn bản pháp lý tùy ý, không bắt buộc tuân theo. UCP chỉ mang tính bắt buộc một khi cả hai bên cùng nhất trí áp dụng và có dẫn chiếu cụ thể điều ấy vào L/C.
Ø Đây là văn bản pháp lý quốc tế chứ không phải quốc gia nên chỉ có hiệu lực điều tiết các mối quan hệ mang tính quốc tế. Ø Chỉ có bản UCP bằng tiếng Anh do ICC ban hành mới có hiệu lực thi hành và giải quyết tranh chấp. Những bản dịch chỉ có giá trị tham khảo. Ø Tính năng động của UCP rất cao thể hiện trong hầu hết các điều khoản của nó đều có quy định rằng: "Nếu thư tín dụng không quy định khác đi." Điều này cho thấy bộ luật UCP rất tôn trọng chủ ý của các bên liên quan đến thư tín dụng.
Sơ lược về sự ra đời của UCP 600 Năm 2003, Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã ủy quyền cho ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng (ICC Commission on Banking Technique and Practice) bắt đầu xem xét lại UCP 500 để có thể có những sửa đổi cần thiết đáp ứng với tình hình thực tiễn mới. Cũng như những lần sửa đổi trước đây, mục đích chính của lần sửa đổi này là để đáp ứng được sự phát triển trong hoạt động ngân hàng, vận tải và bảo hiểm. Hơn nữa, cũng cần thiết xem xét lại ngôn ngữ và phong cách đã được sử dụng trong UCP để loại bỏ những cách diễn đạt có thể gây ra sự hiểu nhầm và áp dụng không thống nhất. Ngay khi công việc xem xét lại được tiến hành, thông qua một số kết quả điều tra toàn cầu, ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng nhận thấy có tới khoảng 70% chứng từ xuất trình theo tín dụng thư đã bị từ chối ở lần xuất trình đầu tiên vì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Điều này rõ ràng có ảnh hưởng tiêu cực đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, vốn là một phương thức thanh toán quốc tế truyền thống và có nhiều ưu điểm, vì chi phí tăng lên do các trường hợp phải chịu phí chứng từ bất hợp lệ gia tăng (thông thường mỗi bộ chứng từ bất hợp lệ sẽ bị thu phí từ 50 - 100USD khi thanh toán) và quan trọng hơn là những sai sót chứng từ đó lại tỏ ra không mấy rõ ràng. Do đó, Ban soạn thảo gồm 9 thành viên đã ra đời để sửa đổi UCP 500. Đồng thời, ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng thành lập Ban cố vấn gồm 41 thành viên là các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và vận tải đến từ 26 nước trên thế giới. Sau 3 năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006, ICC đã thông qua Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ số 600 (UCP 600) thay cho UCP 500.
UCP 600 chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007. Những thay đổi cơ bản trong UCP 600 so với UCP 500: Những điểm mới trong UCP 600 Ø Thứ nhất: Thay đổi về thời gian: trong UCP 600 bỏ đi cụm từ “thời gian hợp lý (reasonable time)” và quy định mỗi ngân hàng sẽ có thời gian tối đa là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình chứng từ để xác định chứng từ có hợp lệ hay không. Ø Thứ hai: Quy định mới trong UCP 600-điều 14j cho phép địa chỉ của người bán hoặc mua trên hóa đơn không cần giống như được chỉ định trong L/C mà có thể là địa chỉ khác trong cùng quốc gia. Ø Thứ ba: Ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ và giao bộ chứng từ cho người mở L/C cho đến khi được sự đồng ý chấp nhận bỏ qua sai biệt (Cụ thể trong điều 16.iii của UCP 600 ).
Ø Thứ tư: Điều 6 UCP 600 có thêm khoản mục mới quy định về nơi xuất trình chứng từ so với Điều 42 UCP 500.ii có nói: tín dụng thư có hiệu lực tại ngân hàng nào thì tại đó cũng là nơi xuất trình chứng từ. Địa điểm xuất trình của một tín dụng có giá trị thanh toán với bất kỳ ngân hàng nào là địa điểm xuất trình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 của ngân hàng bất kỳ đó. Và “A place for presentation other than that of the issuing bank is in addition to the place of the issuing bank.” Ø Thứ năm: Quy định về Hoá đơn thương mại ở UCP 600 có thêm nội dung mới so với UCP 500 là khoản mục a.iii: hoá đơn thương mại phải được lập bằng tiền tệ tương tự với tiền tệ trong tín dụng Ø Thứ sáu: Điều 7 và điều 8.c UCP 600 quy định mới cho phép chiết khấu L/C thanh toán theo hình thức chậm trả. Ø Thứ bảy: Trong UCP 600 điều 38 có quy định mới là cho phép “Một ngân hàng phát hành có thể là ngân hàng chuyển nhượng được”.
Ø Thứ tám: Trong UCP 600, điều 22, khoản (a) đã quy định thêm rằng vận đơn thể hiện là nó phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu phải được ký bởi người thuê tàu hay đại lý đích danh hay nhân danh cho người thuê tàu. Một đại lý hoặc đại diện ký cho chủ tàu hoặc người thuê tàu phải thể hịên tên của người chủ tàu hoặc người thuê tàu → Qua đó ta thấy vận đơn này sẽ có giá trị pháp lý cao hơn, nhiều người có nghĩa vụ và chịu trách nhiệm hơn và từ đó thì bảo đảm an toàn hơn cho người nhập khẩu trong quá trình vận chuyển hàng hoá. Ø Thứ chín: UCP 600 không còn cho phép phát hành L/C có thể hủy ngang. Và trong UCP 600 bổ sung thêm trường hợp bất khả kháng là “torrisism-khủng bố” Ø Thứ mười: UCP 600 rút gọn lại chỉ có 39 điều khoản nhưng ý nghĩa súc tích hơn.