CHƯƠNG 1 LÝ LU Ậ N C H U N G VỀ TH Ư Ơ N G H IỆU N G Â N H À N G 1. NHỮNG VẤN ĐÊ c ơ BẢN VẺ THƯƠNG HIỆU 1. Khái niệm về thương hiệu 1. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ Từ thương hiệu (brand) có nguồn gốc từ chữ “Branr”, theo tiếng Aixolen có nghĩa là đóng dấu, xuất phát từ thời xa xưa, khi những chủ trại chăn nuôi muốn phân biệt đàn cừu của mình với những đàn cừu khác, họ dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ đóng lên lưng từng con một, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hóa và quyền sở hữu của mình.
Như thế, thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản xuất. Vì vậy, theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biếu tượng, hình vẽ thiết kế,.hoặc tập họp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một người hoặc một nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.Aeker trong quyên “ Managing Brand Equity” Một thương hiệu là một tên phân biệt có dụng ý xác định hàng hóa hay dịch vụ, hoặc của một người bán, hay của một nhóm người bán và để phân biệt các sản phấm hay dịch vụ này với các sản phẩm hay dịch vụ của công ty đối thủ. Theo các văn bản luật của Việt Nam Thương hiệu là một thuật ngữ phổ biến trong marketing thường được người ta sử dụng khi đề cập tới: ạ) Nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu sản phấm)\ b) Tên thương mại của tố chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh {thương hiệu doanh nghiệp)', hay c) Các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa. 5 Định nghĩa về ‘Nhãn hiệu hàng hóa”, Điều 785 Bộ luật Dân sự của Việt Nam quy định: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau.
Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tổ đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc.” Định nghĩa về “Tên thương mại “, Điều 14 Nghị định 54/2000/NĐ-CP quy định: “Tên thương mại được bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: i) Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được; ii)Có khả năng phân biệt chủ thế kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.” Định nghĩa về “ Tên gọi xuất xứ hàng hóa”, Điều 786 Bộ luật Dân sự quy định: “Tên gọi xuất xứ hàng hóa là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tổ tự nhiên, con người hoặc kết họp cả hai yếu tố đó.” Định nghĩa về “ Chỉ dẫn địa l ỹ \ Điều 14 Nghị định 54/2000/NĐ-CP quy định: “Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hóa đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: i) Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia; ii) Thể hiện trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác cùng loại hàng hóa này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.” Như vậy, một thương hiệu thường được cấu tạo bởi hai phần: - Phát âm được-, là những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác 6 của người nghe như tên công ty (ví dụ như : Honda, Toyota,.), tên sản phẩm ( Dove, Sunsilk,.), câu khấu hiệu (nâng niu bàn chân V iệt,.), đoạn nhạc hát đặc trưng và các yếu tố phát âm được khác. - Phần không p hát âm được: là những yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng (Ví dụ: hình lưỡi liềm của hãng Nike, hình con các sấu của hãng lascote.), mầu sắc (mầu xanh đỏ của Pepsi, mầu da cam của hãng V ietnam obile.), kiểu dáng thiết kể bao bì và các yếu tố nhận biết khác. Ớ Việt Nam, khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế hai khái niệm này có sự khác biệt riêng.
Thứ nhất, xét về khía cạnh vật chất, khi nói đến thương hiệu ngoài những yểu tố như tên gọi, logo thì người ta thường nói đến cả khẩu hiệu, nhạc hiệu và điều này gần như không được đề cập trong nhãn hiệu hàng hóa. Thứ hai, thuật ngữ thương hiệu và nhãn hiệu là hai thuật ngữ được dùng trong những ngữ cảnh khác nhau.Ớ góc độ pháp lý, sử dụng thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa là đúng như trong các quy định của luật pháp Việt Nam, nhưng ở góc độ quản trị doanh nghiệp và marketing thì người ta thường dùng thuật ngữ thương hiệu. Thứ ba, nói đến thương hiệu không chỉ là nói đến các dấu hiệu như trong nhãn hiệu hàng hóa mà quan trọng hơn là nói đến hình tượng về hàng hóa trong tâm trí người tiêu dùng. Nó thật sự trừu tượng và vì thế đã có người gọi thương hiệu là phần hồn, còn nhãn hiệu hàng hóa là phần xác.
Nhãn hiệu được tạo ra chỉ trong thời gian đôi khi rất ngắn, trong khi để tạo dựng được một thương hiệu đôi khi là cả cuộc đời của doanh nhân. Các yếu tố thương hiệu của một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được pháp luật bảo hộ dưới dạng là các đối tượng của sở hữu trí tuệ như: Nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiếu dáng công nghiệp và bản quyền. Việc sử dụng các yếu tố thương hiệu cũng rất đa dạng, 7 tùy thuộc vào các chiến lược thương hiệu mà các công ty áp dụng. Trong một số trường họp, tên công ty được dùng chủ yếu cho toàn bộ sản phấm.
Trường họp khác, nhà sản xuất đặt thương hiệu riêng cho các sản phẩm mới mà không liên quan đến công ty (Ví dụ như: Clear , Omo của Uliniver. Những người bán lẻ lại tạo ra thương hiệu riêng của mình dựa vào tên cửa hàng hoặc yếu tố khác ( Ví dụ như: Siêu thị Intimex; Cà phê M ai. Ngoài các yếu tố phát âm được như tên sản phẩm , tên công ty .các yếu tố khác như logo, biểu tượng, kiểu dáng, mầu sắc.cũng sẽ được sử dụng kết hợp tạo nên sự khác biệt với các sản phẩm cùng loại ( Ví dụ như hình quả táo khuyết một góc của hãng Apple, 4 hình tròn lồng vào nhau của hãng A udi.) Các tên được đặt cho các sản phẩm cũng có nhiều dạng khác nhau. Các tên thương hiệu có thể dựa vào con người, dựa vào các loài động vật, chim ( Ví dụ như sữa tắm Dove, bia T iger.) hoặc các đồ vật khác ( Ví dụ như điện thoại Apple, xe W ave.
Một số tên thương hiệu được dùng với các từ vốn gắn liền với nghĩa của sản phẩm hoặc gợi lên những thuộc tính hoặc lợi ích quan trọng của sản phẩm. Giống như tên thương hiệu, các yếu tố thương hiệu khác như logo và biểu tượng có thể được căn cứ vào con người, địa diêm, các hình ảnh trừu tượng.theo các cách khác nhau. Ngày nay, khi thế giới tràn ngập các sản phẩm hàng hóa dịch vụ với nhiều thương hiệu khác nhau, việc phân biệt chúng trở nên vô cùng khó khăn với người tiêu dùng. Do đó, khi tạo dựng một thương hiệu phải tạo cho sản phẩm có sự khác biệt, ấn tượng, lôi cuốn và đi sâu vào tâm trí khách hàng.
Tóm lại, thương hiệu về bản chất là uy tín, danh tiếng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà khách hàng nhận biết, nhớ đến thông qua nhãn hiệu hàng hóa và những yếu tổ ẩn chứa bên trong nhãn hiệu đó. Chức năng của thương hiệu Dù công ty theo đuổi các chiến lược hoặc chính sách thương hiệu nào đi 8 nữa thì thương hiệu phải thực hiện được các chức năng cơ bản sau đây: 1. Phân đoạn thị trường Thương hiệu đóng một vai trò tích cực trong chiến lược phân đoạn thị trường. Các công ty đưa ra một tổ hợp những thuộc tính lý tưởng về các thế mạnh, lợi ích và đặc trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ sao cho chúng phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng cụ thể.
Do đó, công ty sẽ phải tạo ra những dấu hiệu và sự khác biệt nhất định trên sản phẩm của mình để thu hút sự chú ý của những khách hàng tiềm năng. Thực chất đây là công việc đầu tiên của quá trình xây dựng thương hiệu vì nó cho biết thương hiệu muốn gửi gắm thông điệp gì qua sản phẩm và dịch vụ. Một thương hiệu phải trả lời được các câu hỏi sau: “Sản phẩm hoặc dịch vụ có những thuộc tính gì?”; “Sản phẩm hoặc dịch vụ có những thế mạnh gì?”; “ Sản phẩm hoặc dịch vụ đem lại những lợi ích gì?”; “Sản phẩm hoặc dịch vụ tượng trưng cho cái gì?”. Việc trả lời chính xác các câu hỏi trên đây sẽ làm cho thương hiệu sản phẩm hoặc dịch vụ trở nên có ý nghĩa, phù hợp với thị hiếu và kỳ vọng của đối tượng khách hàng mục tiêu.
Tuy nhiên, việc làm này thường ít được các công ty chú ý, thậm chí bị bỏ qua. Do đó, đôi khi ý nghĩa của thương hiệu chỉ được xem xét ở góc độ bình thường nhất như tem hàng hay nhãn mác. Nếu thương hiệu chỉ là một cái gì đơn thuần như nhãn mác thì hàng hóa sẽ bị mất giá trị ngay khi nhãn mác bị bóc đi và trái lại cho dù thương hiệu được ghi trên những sản phẩm bắt chước thì cũng vẫn bị coi như không có. Một sản phẩm cho dù không được gắn thương hiệu dưới dạng nhãn mác đôi khi vẫn có giá trị hơn một sản phẩm thông thường.
Đó là trường hợp các loại áo hiệu Lacoste không gắn mác Lacoste hay giầy Adidas không đề tên Adidas. Các sản phẩm này vẫn có giá trị hơn những chiếc áo hay những đôi giầy được bắt chước vì thương hiệu của chúng vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi không nhìn thấy.