CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 1. Các khái niệm: ¾ Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. ¾ Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. ¾ Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ năm phần trăm trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành.
¾ Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. ¾ Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán. ¾ Tổ chức kiểm toán được chấp thuận là công ty kiểm toán độc lập thuộc danh mục các công ty kiểm toán được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận kiểm toán theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định. ¾ Bản cáo bạch là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tin chính xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết chứng khoán của tổ chức phát hành.
¾ Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán. ¾ Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán. ¾ Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư -4- chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. ¾ Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.
¾ Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán. ¾ Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Thị trường chứng khoán: Thị trường tài chính: là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi cung cấp đến nơi có nhu cầu về vốn cho cắc hoạt động kinh tế. Như vậy, thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn.
Thị trường tài chính cũng có thể được định nghĩa là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính. Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tài chính là nơi mà các công cụ nợ ngắn hạn được mua bán với số lượng lớn. Thị trường vốn là nơi mà những công cụ vốn, công cụ nợ trung và dài hạn do các tổ chức Nhà nước và các công ty phát hành được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
Thị trường vốn bao gồm thị trường tín dụng trung và dài hạn thông qua ngân hàng và thị trường chứng khoán. Như vậy thị trường chứng khoán là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, mà tại đó diễn ra việc mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn. Nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán 1. Nguyên tắc trung gian Thị trường chứng khoán không phải trực tiếp giữa người mua và người bán thực hiện mà do những người trung gian thực hiện.
Nguyên tắc này đảm bảo tính lành mạnh cho hoạt động của thị trường chứng khoán và bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Nguyên tắc đấu giá Ngày nay khi công nghệ thông tin, máy tính phát triển, đấu giá được thực hiện dưới ba hình thức cơ bản: - Đấu giá trực tiếp: là hình thức đấu giá mà các nhà môi giới trực tiếp gặp nhau, thông qua một chuyên gia chứng khoán tại quầy giao dịch trên sàn giao dịch. - Đấu giá gián tiếp: là hình thức đấu giá mà các nhà môi giới không trực tiếp gặp nhau. Các công ty chứng khoán sẽ công bố thường xuyên các mức giá và số lượng đặt mua, đặt bán của các loại chứng khoán.
Các lệnh mua/bán được truyền đến các công ty chứng khoán thành viên qua hệ thống máy tính nối mạng để xác định giá và số lượng khớp. Điển hình của hình thức đấu giá này là thị trường chứng khoán London.- Đấu giá tự động: là hình thức đấu giá qua hệ thống máy tính nối mạng giữa máy chủ của Sở/Trung tâm giao dịch với hệ thống máy của các CTCK thành viên. Sau khi các lệnh được truyền đến máy chủ, máy chủ sẽ tự xác định ra giá chốt và thông báo lại kết quả cho các công ty chứng khoán 1. Nguyên tắc công khai Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.2 Vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính Thị trường tài chính và thị trường vốn có mối quan hệ hữu cơ với nhau nên rất khó xác định được ranh giới giữa 2 loại thị trường này.
Các biến đổi về giá cả, lãi suất trên thị trường tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn, cụ thể là thị trường chứng khoán. Ngược lại, những biến động trên thị trường chứng khoán cũng ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ. Cấu trúc cơ bản của thị trường chứng khoán - Thị trường sơ cấp (primary market): là nơi các chứng khoán được phát hành và phân phối lần đầu tiên cho các nhà đầu tư. Ở thị trường sơ cấp, chứng khoán vốn và chứng khoán nợ đươc mua bán theo mệnh giá của nhà phát hành.
Việc xây dựng một thị trường sơ cấp hoạt động hiệu quả với lượng hàng hóa đa dạng, hấp dẫn nhà đầu tư và công chúng có ý nghĩa quyết định cho việc hình thành và phát triển thị trường thứ cấp. - Thị trường thứ cấp (secondary market): là thị trường giao dịch các công cụ tài chính sau khi chúng đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường này không làm thay đổi nguồn vốn của tổ chức phát hành mà chỉ chuyển vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác. Ở thị trường thứ cấp, giá chứng khoán được xác định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quan hệ cung cầu trên thị trường, giá trị thực của doanh nghiệp, uy tín, xu thế phát triển của doanh nghiệp, các thông tin/tin đồn về hoạt động của doanh nghiệp,v.
Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Trong hoạt động của thị trường chứng khoán có nhiều chủ thể khác nhau tham gia, bao gồm: -7- - Các doanh nghiệp: tham gia thị trường với tư các là người tạo ra hàng hóa ở thị trường sơ cấp và mua bán lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp. - Các nhà đầu tư riêng lẻ: tham gia thị trường với tư các là người mua bán chứng khoán. Đó là những người có tiền tiết kiệm và muốn đầu tư số tiền đó vào thị trường chứng khoán để hưởng lợi tức; họ cũng là người bán lại các chứng khoán của mình trên thị trường chứng khoán để rút vốn trước thời hạn hoặc thu chênh lệch giá. - Các tổ chức tài chính (các quỹ, công ty bảo hiểm, ….): tham gia thị trường với tư cách vừa là người mua vừa là người bán nhằm tìm kiếm lợi nhuận qua các hình thức nhận lãi, cổ tức, giá thặng dư,… - Nhà môi giới chứng khoán: là người trung gian thuần tuý, hoạt động như các đại lý cho những người mua bán chứng khoán.
Sự có mặt của nhà môi giới góp phần đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường là chứng khoán thực, giúp thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh, hợp pháp , phát triển và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán tập trung và phi tập trung 1. Thị trường tập trung Thị trường chứng khoán tập trung (Sở Giao Dịch Chứng Khoán ) là một thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) hoặc thông qua hệ thống máy tính. Thị trường chứng khoán tập trung không tham gia vào việc mua bán chứng khoán mà chỉ là nơi giao dịch, tạo điều kiện cho các giao dịch được tiến hành thuận lợi, dễ dàng.
Thị trường phi tập trung (thị trường OTC): Thị trường phi tập trung dành cho việc giao dịch chứng khoán của những công ty chưa niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung. Sở giao dịch chứng khoán 1. Khái niệm Sở giao dịch chứng khoán là nơi mà việc giao dịch chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) hoặc thông qua hệ thống máy tính. Các chứng khoán được niêm yết giao dịch tại Sở Giao Dịch chứng khoán thông thường là chứng khoán của các công ty lớn, có danh tiếng và đã trải qua thử thách trên thị trường và đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết do Sở Giao Dịch chứng khoán đặt ra.
Hình thức sở hữu của Sở giao dịch chứng khoán: 1. Hình thức sở hữu thành viên: Sở giao dịch chứng khoán do các thành viên là các công ty chứng khoán sở hữu, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có hội đồng quản trị do các công ty chứng khoán thành viên vừa là người tham gia giao dịch, vừa là người quản lý Sở giao dịch chứng khoán nên chi phí thấp và dễ ứng phó với tình hình thay đôỉ trên thị trường. Một số Sở giao dịch ở các nước như New York, Hàn Quốc, Tokyo, Thái Lan… được tổ chức theo hình thức sở hữu này. Hình thức công ty cổ phần: Sở giao dịch chứng khoán do các công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng, công ty tài chính, bảo hiểm tham gia sở hữu với tư cách là cổ đông.
Sở được tổ chức dưới hình thức này hoạt động theo luật công ty và chạy theo mục tiêu lợi nhuận. Một số Sở giao dịch ở các nước như Đức, Anh, Hồng Kông,… được tổ chức theo hình thức này.