LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Bƣớc sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một bức tranh tổng thể là thế giới với gần nửa số dân sống dƣới 2 USD/ngày và cứ 8 trong số 100 trẻ em không sống đƣợc quá 5 tuổi. Đói nghèo đã trở thành một thách thức lớn, đe dọa sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại; không những vậy, đói nghèo đã và đang là một trong những nguyên nhân đe dọa trực tiếp tới sự tồn vong và phát triển của con ngƣời. Đây không phải là vấn đề của một quốc gia riêng rẽ nào mà là vấn đề của toàn nhân loại, đòi hỏi toàn thế giới phải chung tay giải quyết một cách toàn diện và triệt để.
Ngăn chặn tình trạng đói nghèo sẽ không chỉ giúp nâng cao cuộc sống tại các nƣớc đang phát triển mà còn mang lại sự bảo đảm an ninh cho các nƣớc giàu. Hệ thống Tài chính Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một tỷ lệ rất lớn ngƣời Việt Nam vẫn chƣa tiếp cận đƣợc với các dịch vụ tài chính chính thức vì họ là ngƣời nghèo. Một vấn đề đặt ra là làm sao tìm ra những phƣơng cách giúp đỡ trực tiếp về mặt tài chính để những ngƣời nghèo cũng đƣợc hƣởng kết quả của sự phát triển đó, đặc biệt là trong thời kỳ Việt Nam đang hội nhập với kinh tế quốc tế hiện nay.
Ngành Tài chính vi mô Việt Nam ra đời đã cung cấp các dịch vụ tài chính cho nhiều ngƣời thuộc diện này. Tài chính vi mô là công cụ hữu hiệu trong chiến lƣợc xoá đói, giảm nghèo ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Việc xây dựng một ngành tài chính vi mô bền vững sẽ tạo kênh dẫn vốn và mang các dịch vụ ngân hàng khác nhƣ tiết kiệm, chuyển tiền tới những ngƣời có thu nhập thấp và các doanh nghiệp vi mô - những đối tƣợng khó tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Thị trƣờng tài chính vi mô ở Việt Nam còn rất lớn khi các tổ chức tài chính vi mô hiện nay mới chỉ đáp ứng đƣợc khoảng 40% nhu cầu của ngƣời nghèo.
60% còn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 lại vẫn còn đang sống dƣới mức nghèo và chƣa tiếp cận đƣợc những dịch vụ của tài chính vi mô. Mặc dù Việt Nam đã có khung pháp lý cơ bản cho các tổ chức tài chính vi mô, đó là Nghị định 28/2005/QĐ-CP và Nghị định 165/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, những Nghị định này vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Trong khi đó quá trình hội nhập đã tạo ra những thách thức lớn đối với các tổ chức tài chính vi mô từ sự cạnh tranh gay gắt trong khu vực tài chính ngân hàng, việc mở rộng thị phần của các tổ chức tài chính vi mô; thách thức từ cơ chế tài chính vi mô đang đẩy ngƣời nghèo ra xa, khó có nhu cầu tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức vì các nhu cầu đa dạng hơn nhƣng thủ tục cho vay cũng phức tạp và khó khăn hơn.
Thách thức lớn nữa đó là sự bất ổn kinh tế vĩ mô với sự thay đổi chóng mặt của lãi suất và tỷ giá khiến các tổ chức tài chính vi mô không thay đổi kịp. Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm là tổ chức tài chính vi mô phi lợi nhuận hoạt động vì lợi ích của ngƣời nghèo và nghèo nhất, nhằm giúp họ đạt đƣợc những cải thiện về an sinh lâu dài thông qua cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính một cách bền vững, hiệu quả và trung thực. Là tổ chức tài chính có tính minh bạch cao và hoạt động theo các tiêu chuẩn quốc tế về tài chính vi mô, Quỹ trợ vốn CEP đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động để thực hiện đúng với mục tiêu và tôn chỉ hoạt động của CEP. Với mong muốn và hy vọng về sự phát triển hơn nữa các sản phẩm tài chính vi mô ở Việt Nam nói chung và Quỹ trợ vốn CEP nói riêng, tạo điều kiện cho nhiều hơn nữa những ngƣời nghèo đƣợc tiếp cận với các sản phẩm này.
Đề tài: “Giải pháp phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm” đã đƣợc tôi lựa chọn để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ. Mục tiêu nghiên cứu Khái quát những lý luận về phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại tổ chức tài chính vi mô. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Phân tích thực trạng phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm. - Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: đề tài đƣợc nghiên cứu trên toàn hệ thống Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm. Về thời gian: đề tài giới hạn việc nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2013. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu trong đề tài là các phƣơng pháp nghiên cứu định tính nhƣ thống kê, so sánh, phân tích… và phƣơng pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua các nguồn cung cấp thông tin từ các Báo cáo hoạt động và Báo cáo tài chính hàng năm của Quỹ trợ vốn CEP, các tạp chí chuyên ngành và internet.
Kết cấu nội dung Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của bài nghiên cứu đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại tổ chức tài chính vi mô. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm. Chƣơng 3:Giải pháp phát triển sản phẩm tài chính vi mô tại Quỹ trợ vốn cho ngƣời lao động nghèo tự tạo việc làm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 1. Tài chính vi mô 1. Khái niệm Tài chính vi mô xuất hiện khá sớm, hình thành sơ khai từ những năm giữa thế kỷ 19. Ban đầu, tài chính vi mô đƣợc hiểu là những món vay nhỏ dành cho doanh nghiệp và ngƣời nông dân với mục tiêu giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ từ đó giúp họ thoát nghèo.
Tài chính vi mô đƣợc hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau: Theo ADB, “ Tài chính vi mô là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính nhƣ: tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm, cho ngƣời nghèo và những hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ”. Theo quan điểm này, những cá nhân có thu nhập thấp cũng có khả năng tự đƣa mình ra khỏi sự nghèo đói nếu nhƣ họ đƣợc tiếp cận với các dịch vụ tài chính đó. Theo CGAP, “Tài chính vi mô thƣờng đƣợc định nghĩa là các dịch vụ tài chính cho những khách hàng nghèo, có thu nhập thấp đƣợc cung cấp bởi các nhà tài trợ khác nhau”. Trong thực tế, cụm từ này thƣờng đƣợc dùng hạn hẹp hơn để đề cập đến các khoản vay và các dịch vụ khác từ các nhà tài trợ tự nhận mình là “Tổ chức Tài chính vi mô”.
Những tổ chức này thƣờng có khuynh hƣớng sử dụng các phƣơng pháp mới đã có trên 30 năm qua để cho những ngƣời không ăn lƣơng vay một món nợ rất nhỏ mà chỉ cần rất ít hoặc không cần thế chấp. Những phuơng pháp này bao gồm việc cho tập thể vay và chịu chung trách nhiệm, điều kiện cần có là trƣơng mục tiết kiệm trƣớc khi vay nợ, tiền vay đƣợc tăng lên dần và trong tƣơng lai có thể đƣợc vay tiền dễ dàng hơn nếu món nợ hiện tại đƣợc trả đầy đủ và đúng hạn. Nói một cách rộng rãi hơn, tài chính vi mô đề cập đến một phong trào mở ra một thế giới trong đó những hộ gia đình có thu nhập thấp đƣợc tiếp cận với các dich vụ tài chính có chất lƣợng cao và giá cả phải chăng, đƣợc cung cấp bởi các nhà cung cấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 bán lẻ để tài trợ cho các hoạt động sinh lợi, xây dựng vốn liếng, ổn định tiêu thụ và phòng tránh rủi ro. Những dịch vụ này bao gồm: tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, kiều hối, thanh toán và các dịch vụ khác.
Tại Hội nghị Thƣợng đỉnh toàn cầu về tín dụng vi mô ở Washington, Hoa Kỳ diễn ra vào tháng 2-1997, “Tài chính vi mô đƣợc định nghĩa là các hoạt động có mục đích cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tƣợng ngƣời nghèo để triển khai sản xuất kinh doanh, tạo ra lợi nhuận, nâng cao chất lƣợng đời sống” (Võ Khắc Thƣờng và Trần Văn Hoàng, 2013). Nhƣ vậy, tài chính vi mô đƣợc hiểu một cách chung nhất là việc cung cấp các dịch vụ tài chính nhƣ tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm., cho những cá nhân và hộ gia đình có thu nhập thấp nhằm giúp họ phát triển sản xuất, tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống. Các đặc điểm của tài chính vi mô Theo Uỷ ban Basel (2011) trích trong tài liệu của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (2011) về các nguyên tắc cơ bản nhằm giám sát có hiệu quả hoạt động tài chính vi mô, TCVM có các đặc điểm sau: Một là, đối tượng khách hàng là những người có thu nhập thấp Các tổ chức TCVM thƣờng xuyên cung cấp tín dụng cho những khách hàng có thu nhập thấp nhƣ lao động bán thất nghiệp và các hộ kinh doanh không chính thức nhƣ ngƣời bán hàng rong, các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ và vừa. Các đối tƣợng khách hàng này có đặc điểm chung là sống tập trung trong một khu vực địa lý và cùng nhóm xã hội (hội phụ nữ, nông dân, đồng hƣơng.
Vì đối tƣợng khách hàng là ngƣời có thu nhập thấp nên các khoản cho vay thƣờng có giá trị rất nhỏ, thời hạn ngắn và không có tài sản đảm bảo.