ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái đặc biệt mà Việt Nam là một trong những quốc gia đƣợc thiên nhiên ban tặng. RNM có vai trò quan trọng đối với môi trƣờng biển và có liên quan mật thiết với đời sống ngƣời dân ven biển, do vậy bảo vệ RNM cũng chính là duy trì tài nguyên đa dạng sinh học và bảo vệ cuộc sống của ngƣời dân ven biển. Nghĩa Hƣng là một trong 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định. Vùng cửa sông ven biển có rừng ngập mặn gồm 7 xã: Nghĩa Trung, Nghĩa Thắng, Nam Điền, Nghĩa Phúc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Hải và thị trấn Rạng Đông đều thuộc vùng đệm của Khu Dự trữ Sinh quyển đồng bằng sông Hồng.
Về đa dạng sinh học, Nghĩa Hƣng có 13 sinh cảnh khác nhau và là một trong các vùng có sinh cảnh đa dạng ở lƣu vực sông Hồng ( Phan Nguyên Hồng và cs, 2004) trong đó một trong những sinh cảnh chủ yếu là RNM trồng (1726 ha) với loài Trang là chủ yếu, ngoài ra còn một số loài khác nhƣ Bần chua, Đƣớc ( Tuấn và cs, 2004). Vùng RNM Nghĩa Hƣng là nơi kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài tôm, cá và cua, đồng thời chúng đóng vai trò quan trọng đối với việc duy trì năng suất các sản phẩm biển của biển vùng ven bờ. Những nhận định khác của nhóm khảo sát Phan Nguyên Hồng, độ cao sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải RNM, với mức biến đổi từ 75 – 85% từ 1,3m xuống 0,2 - 0,3m. Bảo vệ RNM chống lại quá trình xói mòn, sạt lở là ngăn cản quá trình bào mòn và thu hẹp diện tích đất rừng, duy trì mức độ đa dạng sinh học nhƣ hiện nay.
Tuy đƣợc coi là nguồn tài nguyên ven biển vô cùng hữu ích đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống con ngƣời nhƣng hiện nay RNM đang đƣợc đánh giá là một trong những hệ sinh thái đang bị suy thoái nghiêm trọng ở Việt Nam. Diện tích rừng ngày càng thu hẹp, môi trƣờng rừng ngày càng bị đe dọa. Theo số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, năm 1943 Việt Nam có 1 hơn 408.500ha, tính đến năm 2013 diện tích RNM cả nƣớc chỉ còn khoảng 155.000ha phần lớn là RNM mới trồng, những khu RNM tự nhiên, nguyên sinh còn ít. Nhƣ vậy RNM ven biển đã giảm hơn 60% diện tích so với cách đây khoảng 70 năm.
Hiện nay,trong quá trình phát triển kinh tế với tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh cùng với tốc độ gia tăng dân số, với việc quản lý lỏng lẻo hoặc chƣa quan tâm bảo vệ đúng mức đến loại tài nguyên này nên con ngƣời đã khai thác và sử dụng rừng ngập mặn vào nhiều mục đích khác nhau làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp và thành phần các loài cây ngập mặn bị suy giảm. Hậu quả của nó đã đƣợc trả giá: tôm chết, hiện tƣợng phèn hóa, xâm nhập mặn gay gắt, rừng mất khéo theo những thiệt hại nặng nề về ngƣời và của khi thiên tai mà đến nay cũng chƣa hề khắc phục đƣợc. Những năm gần đây đã có nhiều chiến lƣợc và chính sách đề cập đến việc bảo vệ và phục hồi RNM. Chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng quốc gia đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020 của Việt Nam đƣa ra các mục tiêu cụ thể nhƣ “Phục hồi diện tích RNM lên bằng 80% mức năm 1990”.Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó thủ tƣớng thƣờng trực Nguyễn Sinh Hùng (2007) đã có Đề án “ Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn giai đoạn 2008-2015”.
Việc xây dựng đề án này đƣợc triển khai ở các tỉnh trên cả nƣớc. Từ những lý do trên tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng ngập mặn ở huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định”. Đề tài đánh giá hiện trạng rừng trên một khu vực của huyện và bƣớc đầu đề xuất giải pháp nhằm góp phần khôi phục và phát triển RNM tại địa phƣơng. 2 PHẦN 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan nghiên cứu RNM trên thế giới. Nghiên cứu về sinh thái và phân bố RNM RNM có vai trò rất to lớn trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái cho vùng đất ngập nƣớc ven biển đồng thời bảo vệ sự ổn định của đới bờ biển. Để duy trì và phát triển các dải RNM này các nghiên cứu tập trung nhiều vào: phân loại thực vật, sinh lý, sinh thái thực vật ngập mặn, sinh trƣởng của RNM, cấu trúc của RNM…ở các nơi trên thế giới. Những nghiên cứu đó đã chỉ ra RNM phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và 2 bán cầu, một số loài có thể mở rộng phân bố lên phía Bắc tới Bermunda(32o 22’ độ vĩ Bắc) nhƣ Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza), Trang (Candenlia candel), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa)….
Trên phạm vi toàn cầu,Wash (1974) cho rằng sự phân bố RNM trên thế giới chia làm 2 khu vực chính là: - Khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dƣơng bao gồm: Nam Nhật Bản, Philippin, Đông Nam Á, Ấn Độ, bờ biển Đông Hải, Đông Úc, New Zealand, các đảo phía Nam Thái Bình Dƣơng kéo dài tới quần đảo Xamoa. - Khu vực Tây Phi – châu Mỹ bao gồm : bờ biển châu Phi ở Đại Tây Dƣơng, quần đảo Galapagos ở châu Mỹ. Khi nghiên cứu về phân bố của cây RNM trên thế giới, Ding Haw cho rằng: khu vực giữa Malaysia và Bắc Úc là trung tâm tiến hóa của RNM (Ding Haw,1958). Tuy nhiên trên cơ sở phân tích một số hóa thạch thì một số tác giả lại cho rằng trung tâm này nằm ở Tây Nam và Bắc Úc tới Papua New Guinea, có khoảng 30 loài cây gỗ và cây bụi thuộc 14 họ thực vật có hoa trong khu hệ thực vật RNM.
Ngoài ra trong RNM còn có 10 loài thuộc 8 họ dây leo hoặc dƣới tán và khoảng 10-15 loài phát triển tốt ở những vùng trên cạn đôi khi lại gặp trong các quần xã RNM. 3 Những nghiên cứu về động thái của RNM nói chung của một số tác giả trên thế giới phần lớn thông qua việc nghiên cứu về sinh trƣởng và tái sinh của cây ngập mặn bằng cách tìm hiểu các phƣơng pháp đo tăng trƣởng đồng thời tiến hành theo dõi tốc độ tăng trƣởng của cây dƣới tác động của yếu tố môi trƣờng. Năm 1959,Steru và Voight đã tiến hành nghiên cứu ảnh hƣởng của độ mặn nƣớc biển đến sinh trƣởng của cây Đƣớc đỏ(Rhizophora mangle) và cho rằng cây sinh trƣởng tốt nhất ở độ mặn tƣơng đƣơng với độ mặn nƣớc biển.Odum phát hiện ra tác dụng to lớn của bùn bã loài Đƣớc đỏ trong chuỗi thức ăn cửa sông ven biển Floria thì hệ sinh thái RNM trở thành đối tƣợng đƣợc nhiều tổ chức trên thế giới và các nhà khoa học ở nhiều nƣớc quan tâm nghiên cứu. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của rừng và đất rừng ngập mặn trong cuộc sống, các nƣớc khu vực Đông Nam Á có rừng ngập mặn nhƣ: Thái Lan, Philippin, Malaysia, Indonesia đã thành lập cơ quan chuyên trách RNM nhƣ Ủy ban ngập mặn quốc gia (NATMANCOM).
Cơ quan này chủ yếu tập trung nghiên cứu về các chính sách quản lý rừng và đất RNM,chƣa đi sâu nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật. Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về RNM trên thế giới và đều thống nhất quan điểm cho rằng: diện tích RNM trên thế giới không thể thống kê đƣợc một cách chính xác do quá trình bồi tụ,xói lở tự nhiên của các vùng đất ven biển cùng với sự thay đổi sản xuất của con ngƣời ở đây đã tác động đáng kể đến sự biến đổi này. Trong khu vực Đông Nam Á, Malaysia là một trong những nƣớc có RNM lớn nhất trên thế giới,khoảng 674. Để quản lý và khai thác có hiệu quả tài nguyên rừng và đất rừng ngập mặn,các nhà quản lý ở đây đã phân chia RNM theo những mục đích khác nhau gồm: rừng sản xuất và rừng phòng hộ.
4 Công tác điều chế rừng ở đây đã đƣợc tiến hành từ năm 1902 và thực hiện theo kế hoạch 10 năm/lần với chu kỳ khai thác là 30 năm. Băng la đét là một trong những nƣớc có nhiều kinh nghiệm trong trồng và kinh doanh RNM từ đầu những năm 1960. Sau khoảng 30 năm diện tích RNM đã trồng đƣợc khoảng 120.000 ha với những mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao nhƣ trồng rừng sản xuất kết hợp với nuôi trồng thủy sản. Theo đánh giá của hiệp hội nghiên cứu hệ sinh thái RNM quốc tế (ISMA) việc trồng và nghiên cứu các biện pháp kinh doanh RNM mới chỉ thực hiện đƣợc ở một số nƣớc.
Đây cũng là một trong những hạn chế gây cản trở,công tác bảo vệ, khôi phục và phát triển các hệ sinh thái RNM trên thế giới. Nghiên cứu về tác dụng phòng hộ của RNM Trong những công trình nghiên cứu về RNM nhƣ: Cấu trúc, động thái, sinh lý, sinh thái RNM….các tác giả đều đề cập tới khía cạnh phòng hộ, bảo vệ môi trƣờng của RNM nhƣ: Tăng quá trình bồi tụ phù sa, mở rộng diện tích lục địa, hạn chế tác động của sóng biển, góp phần bảo vệ đê biển và những vùng đất ngập nƣớc ven biển. Harada và cộng sự (2000), đã làm thí nghiệm thủy lực nghiên cứu khả năng làm giảm tác động của sóng thần bởi nhiều mô hình khác nhau: Rừng ngập mặn, rừng ven biển, các khối chắn sóng, đá, nhà chắn sóng và kết luận rằng rừng ngập mặn có tác dụng nhƣ những bức tƣờng bê tông trong việc làm giảm những tác động của sóng thần, ngăn chặn sự phá hủy nhà cửa ở sau rừng. Kandasamy Kathiresan, Narayanasami Rajendran (2005) đã nghiên cứu: “Vai trò của rừng ngập mặn ven biển trong việc giảm tác hại của sóng thần” đã khẳng định sóng thần ít gây tổn hại về tài sản và sinh mạng cho những vùng có rừng ngập mặn.Hadi S (2007), cho thấy có 4 cách thức mà rừng ngập mặn có thế làm giảm tác hại của sóng thần.
Tuy nhiên,khả năng của rừng ngập mặn có thể biến đổi nhiều phụ thuộc vào kích thƣớc của cây,mật độ,chiều sâu cây rừng. Các tài liệu công bố chủ yếu phản ánh hiệu lực chắn sóng tổng hợp của đai rừng ngập mặn, đó là khả năng làm suy yếu sóng biển sau các đai rừng thí nghiệm. Những liên hệ chủ yếu làm giảm mức chiều cao sóng biển theo bề rộng của các đai rừng phòng hộ. Còn rất ít tài liệu công bố về liên hệ giữa khả năng làm suy yếu sóng biển với các yếu tố cấu trúc RNM.
Trong thực tế thì khả năng chắn sóng của rừng ngập mặn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố cấu trúc rừng nhƣ mật độ, chiều cao, đƣờng kính thân, đƣờng kính tán cây rừng và bề rộng các đai rừng.