CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 1. Cơ sở lý luận về nông nghiệp và nông nghiệp sản xuất hàng hóa 1. Khái niệm về hàng hóa và sản xuất nông nghiệp hàng hóa: Hàng hóa: Theo (Luật giá năm 2013) hàng hóa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản. Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động. Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có: Tính ích dụng đối với người dùng; Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động; Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm. Sản xuất hàng hóa: Theo (nguồn trích dẫn wikipedia.org) sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.
Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán. Sản xuất hàng hóa nông nghiệp còn phải mở rộng quy mô, ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) vào sản xuất nhằm nâng cao năng xuất cây trồng, vật nuôi. Nó không còn bị giới hạn bởi nguồn lực của giai đình, ùng miền dựa trên nhu cầu và nguồn lực của xã hội. Chuyển từ quy mô nhỏ, manh mún sang quy mô lớn sản xuất chuyên môn hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn xã hội (Trần Thị Lan Hương, năm 2008).
Trong sản xuất hàng hóa, cần tuân theo các quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu và giá cả thị trường. Như vậy, giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính cùng tồn tồi, thống nhất với nhau ở một hàng hoá. Quá trình thực hiện giá trị và quá trình thực hiện giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về thời gian và không gian. Quá trình thực hiện giá trị thực hiện được tiến hành trước và trên thị trường; quá trình thực hiện giá trị sử dụng diễn ra sau và trong lĩnh vực vực tiêu dùng (Trần Văn Tuý, năm 2004).
7 Sự ra đời của sản xuất hàng hoá cần có hai điều kiện trong nghiên cứu của chủ nghĩa Mác-LêNin: Một là, phải có sự phân công lao động xã hội, tức là có sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác; Hai là, phải có sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất về mặt kinh tế, tức là những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định (Trần Thị Lan Hương, năm 2008). Khái niệm về sản xuất nông nghiệp hàng hoá: Phân công lao động xã hội càng phát triển thì quan hệ trao đổi cũng mở rông và ngày càng phức tạp, làm cho tiểu thủ công nghiệp tách khỏi ngành nông lâm nghiệp, hình thành xu hướng công nghiệp thành thị và dần dần tách khỏi nông nghiệp, nông thôn. Chính sự phân công lao động xã hội này đã hình thành nền nông nghiệp hàng hoá trong đó “ nông sản được sản xuất ra không phải để thoả mãn nhu cầu cá nhân của người sản xuất mà để trao đổi trên thị trường, sản phẩm hàng hoá hay nông sản hàng hóa là tế bào kinh tế của nền nông nghiệp hàng hoá” (Trần Xuân Châu, 2002). Do sự phân công lao động giữa các ngành, sản xuất hàng hoá ra đời, vì vậy, Lênin đã đặt nền móng nối giữa phân công lao động xã hội với khái niệm thị trường nói chung và thị trường nông thôn nói riêng.
Nông sản hàng hóa là phần của tổng sản lượng nông nghiệp sau khi đã trừ đi phần dành cho tiêu dùng cá nhân và phải để mở rộng tái sản xuất trong nông nghiệp (giống, thức ăn chăn nuôi. Như vậy, có thể hiểu, sản xuất nông nghiệp hàng hóa là sản xuất theo nhu cầu thị trường, tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa ngày càng lớn đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế; khối lượng nông sản hàng hóa là một bộ phận của tổng sản phẩm nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa: Từ các luận giải và khái niệm trên ta cỏ thể định nghĩa phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa là quá trình lựa chọn sản phẩm sản xuất và sử dụng tổng hợp các nguồn lực, ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ và thay đổi cơ cấu sản xuất để từng bước tạo ra lượng nông sản lớn hơn trên một đơn vị diện tích, với chất lượng ngày càng cao để lưu thông, tiêu thụ ngoài nhu cầu nội bộ, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Vị trí, vai trò và đặc điểm của nông nghiệp hàng hoá 1.
Vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân: Thứ nhất, ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển là những nước 8 còn nghèo, đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nước đó. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà hiện nay, mặc dù trình độ khoa học - công nghệ ngày càng phát triển nhưng vẫn chưa ngành nào có thể thay thế được.
Xã hội càng phát triển, đời sống con người ngày càng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại. Các nhà kinh tế học đều thống nhất cho rằng, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực. Có thể chọn con đường nhập khẩu lương thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợi hơn, nhưng điều đó chỉ phù hợp với các nước như Singapore, Ả rập Saudi hay Brunei mà không dễ gì đối với các nước như Inđônêxia, Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam là những nước đông dân. Các nước đông dân muốn nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùng phải sản xuất trong nước.
Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển thì sẽ khó thu hút được đầu tư để phát triển bền vững, lâu dài. Thứ hai, nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực thành thị, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn.
Vì thế khu vực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị 9 trường. Khu vực nông nghiệp còn là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì nông nghiệp là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra từ thuế nông nghiệp, tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản,… Những điển hình thành công về sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho công nghiệp.
Ngoài ra cần phải khai thác các nguồn khác một cách hợp lý, không nên cường điệu quá vai trò của vốn tích luỹ trong nông nghiệp. Thứ ba, nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp và dịch vụ.Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển.
Đặc điểm của ngành nông nghiệp: Thứ nhất, nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống, có lịch sử phát triển lâu đời, do đó có nhiều đặc điểm trì trệ lạc hậu vẫn còn tồn tại trong sản xuất.