Luận văn: Giải pháp phát triển nông nghiệp hàng hóa tại Lâm Thao, Phú Thọ

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

131
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Những đóng góp của đề tài

5. Bố cục của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA

1.1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

1.1.1. Cơ sở lý luận về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp

1.1.2. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

1.1.3. Hộ sản xuất trong phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

1.1.4. Nội dung phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

1.2. Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

1.2.1. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của một số địa phương

1.2.2. Bài học kinh nghiệm

2. Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Câu hỏi nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin

2.2.2. Phân tích, xử lý số liệu

2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu

2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài

2.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô và kết quả sản xuất nông nghiệp

2.3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sản xuất nông sản hàng hoá

3. Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

3.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

3.1.1. Đặc điểm tự nhiên

3.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

3.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

3.2.1. Tình hình phát triển chung về sản xuất ngành nông nghiệp của huyện

3.2.2. Kết quả sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

3.2.3. Tình hình chế biến và tiêu thụ nông sản

3.2.4. Tình hình tổ chức sản xuất và dịch vụ nông nghiệp

3.2.5. Các chính sách hỗ trợ thực hiện phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Lâm Thao

3.2.6. Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại các hộ điều tra

3.3. Nhân tố ảnh hưởng đến nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

3.3.1. Điều kiện tự nhiên

3.3.2. Các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp

3.3.3. Chuyển giao công nghệ kỹ thuật sản xuất nông nghiệp

3.3.4. Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp

3.3.5. Thị trường tiêu thụ sản phẩm

3.3.6. Lao động và chất lượng nguồn lao động trong sản xuất nông nghiệp

3.4. Đánh giá chung phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

3.4.1. Những kết quả đạt được

3.4.2. Những tồn tại, hạn chế

3.4.3. Nguyên nhân của những yếu kém hạn chế

4. Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

4.1. Quan điểm xây dựng vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa tại huyện Lâm Thao

4.1.1. Phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa một cách bền vững, nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế từng vùng trên địa bàn huyện

4.1.2. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phải gắn liền với xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường bền vững

4.1.3. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phải có sự điều hành, quản lý của Nhà nước

4.2. Phương hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa

4.2.1. Định hướng cụ thể từng ngành từ năm 2017 - 2020

4.3. Giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Lâm Thao

4.3.1. Rà soát, quy hoạch lại vùng sản xuất hàng hoá tập trung

4.3.2. Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

4.3.3. Tổ chức thị trường tiêu thụ nông sản cho nông hộ

4.3.4. Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá cho nông hộ, áp dụng tiến bộ khao học kỹ thuật

4.3.5. Giải pháp về chính sách

4.3.6. Các giải pháp khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tiềm năng phát triển nông nghiệp hàng hóa Lâm Thao

Huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, sở hữu những điều kiện thuận lợi để trở thành một trung tâm sản xuất nông nghiệp hàng hóa trọng điểm. Vị trí địa lý chiến lược, nằm trong tam giác công nghiệp Việt Trì - Bãi Bằng - Lâm Thao, cùng hệ thống giao thông đồng bộ (đường bộ, đường sắt, đường thủy) tạo ra lợi thế vượt trội trong việc kết nối và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Tài nguyên đất đai màu mỡ, địa hình đa dạng từ đồi gò đến đồng bằng phẳng, kết hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm là nền tảng lý tưởng cho việc đa dạng hóa sản xuất. Giai đoạn 2014-2016, ngành nông nghiệp huyện đã có những bước chuyển mình tích cực. Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng trưởng bình quân 5,45%/năm, cho thấy nội lực và tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Cơ cấu nội ngành cũng dịch chuyển theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng trồng trọt và tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế nông thôn Lâm Thao theo chiều sâu. Đây là những tiền đề quan trọng để xây dựng các giải pháp đột phá, thúc đẩy nền nông nghiệp của huyện phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và bền vững.

1.1. Lợi thế về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý chiến lược

Lâm Thao có tổng diện tích tự nhiên 9.769,11 ha, với địa hình tương đối đa dạng, thấp dần từ Bắc xuống Nam, thuận lợi cho việc quy hoạch các vùng sản xuất tập trung. Đất đai màu mỡ ven sông Hồng là điều kiện lý tưởng để thâm canh lúa chất lượng cao và các loại rau màu. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình 1.720 mm/năm và nhiệt độ trung bình 23°C cho phép canh tác đa dạng, phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế. Đặc biệt, vị trí là đầu mối giao thông quan trọng giúp Lâm Thao dễ dàng kết nối với các thị trường lớn như Hà Nội và các tỉnh Tây Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông, phân phối nông sản, giảm chi phí logistics và nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm địa phương. Những lợi thế này là nền tảng vững chắc cho việc định hình một nền nông nghiệp bền vững.

1.2. Bức tranh kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp

Theo Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Quốc Hùng (2017), kinh tế huyện Lâm Thao giai đoạn 2014-2016 có tốc độ tăng trưởng ổn định, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 26,12 triệu đồng (2014) lên 37,59 triệu đồng (2016). Trong bối cảnh đó, ngành nông nghiệp tuy giảm về tỷ trọng nhưng vẫn giữ vai trò nền tảng. Đáng chú ý là sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi đang diễn ra mạnh mẽ. Tỷ trọng ngành trồng trọt trong cơ cấu nông nghiệp giảm từ 49,8% (2014) xuống còn 44,3% (2016), trong khi ngành chăn nuôi tăng tương ứng từ 40,7% lên 47,2%. Sự chuyển dịch này cho thấy người nông dân và chính quyền địa phương đang chủ động tìm kiếm các mô hình sản xuất hiệu quả hơn, hướng đến các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ tập trung vào cây lương thực truyền thống. Đây là dấu hiệu tích cực cho quá trình phát triển nông nghiệp hàng hóa.

II. Các thách thức cản trở phát triển nông nghiệp hàng hóa Lâm Thao

Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng, quá trình phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Lâm Thao vẫn đối mặt với không ít rào cản mang tính hệ thống. Thách thức lớn nhất đến từ thực trạng sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Ruộng đất phân tán gây khó khăn cho việc áp dụng cơ giới hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật đồng bộ, dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm không đồng đều. Vấn đề kết nối thị trường tiêu thụ nông sản còn nhiều bất cập. Người nông dân chủ yếu bán sản phẩm qua thương lái, giá cả bấp bênh và thường bị ép giá. Công nghệ chế biến nông sản sau thu hoạch chưa phát triển, chủ yếu là sơ chế thủ công, làm giảm giá trị gia tăng và khả năng bảo quản sản phẩm. Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp còn hạn chế, các chính sách hỗ trợ nông dân chưa thực sự phát huy hiệu quả tối đa, và chất lượng nguồn lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại. Việc giải quyết triệt để những tồn tại này là yêu cầu cấp thiết để khai thông điểm nghẽn, tạo đà cho nông nghiệp Lâm Thao cất cánh.

2.1. Tình trạng sản xuất manh mún và thiếu liên kết sản xuất

Quy mô sản xuất nhỏ lẻ là đặc điểm cố hữu của nền nông nghiệp Lâm Thao. Ruộng đất bị chia cắt thành nhiều thửa nhỏ sau quá trình dồn điền đổi thửa vẫn chưa được khắc phục triệt để. Tình trạng này làm tăng chi phí sản xuất, hạn chế khả năng đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại. Quan trọng hơn, nó cản trở việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đồng nhất về quy trình và chất lượng. Mối liên kết 4 nhà (Nhà nông - Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) còn lỏng lẻo. Các hợp tác xã nông nghiệp hoạt động chưa thực sự hiệu quả, vai trò cầu nối giữa nông dân và doanh nghiệp còn mờ nhạt. Điều này dẫn đến tình trạng sản xuất tự phát, không theo quy hoạch và tín hiệu thị trường, gây ra rủi ro lớn cho người sản xuất.

2.2. Khó khăn về thị trường tiêu thụ và công nghệ chế biến sau thu hoạch

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hùng (2017) chỉ ra rằng khó khăn trong tiêu thụ là một trong những rào cản lớn nhất đối với nông dân. Sản phẩm làm ra chủ yếu được bán tươi tại địa phương hoặc cho thương lái với giá thấp. Việc xây dựng thương hiệu nông sản chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến sản phẩm của Lâm Thao dù có chất lượng tốt nhưng vẫn khó cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, công nghệ chế biến nông sản sau thu hoạch còn rất lạc hậu. Hầu hết nông sản chưa qua chế biến sâu, làm giảm giá trị và gây lãng phí lớn khi vào vụ thu hoạch rộ. Việc thiếu các cơ sở chế biến hiện đại cũng khiến chuỗi cung ứng dễ bị đứt gãy, sản phẩm khó tiếp cận các kênh phân phối chuyên nghiệp như siêu thị hay xuất khẩu.

III. Giải pháp quy hoạch chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp hiệu quả

Để giải quyết các thách thức, giải pháp nền tảng cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Lâm Thao là phải bắt đầu từ công tác quy hoạch và tái cơ cấu sản xuất một cách khoa học. Cần tiến hành rà soát, điều chỉnh và xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp chi tiết đến từng địa phương, hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh quy mô lớn. Quy hoạch này phải dựa trên lợi thế so sánh của từng tiểu vùng, gắn với định hướng thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Song song với quy hoạch, việc đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là yếu tố then chốt. Cần giảm dần diện tích các cây trồng hiệu quả thấp, mạnh dạn đưa vào sản xuất các giống mới có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Huyện cần xây dựng các mô hình thí điểm, hỗ trợ nông dân về giống, kỹ thuật và vốn để nhân rộng các mô hình chuyển đổi thành công, hướng tới một nền nông nghiệp hữu cơ và bền vững, tạo ra các sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh cao.

3.1. Rà soát quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn

Quy hoạch lại sản xuất là bước đi chiến lược đầu tiên. Chính quyền huyện Lâm Thao cần phối hợp với các cơ quan chuyên môn để xác định rõ các vùng có lợi thế cho từng loại cây trồng, vật nuôi cụ thể. Ví dụ, quy hoạch vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, vùng rau an toàn, vùng cây ăn quả đặc sản, và các khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư. Việc hình thành các vùng sản xuất tập trung không chỉ giúp khắc phục tình trạng manh mún mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng (thủy lợi, giao thông nội đồng), áp dụng cơ giới hóa và quản lý dịch bệnh hiệu quả. Đây là cơ sở để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm, từng bước hình thành chuỗi giá trị nông sản Phú Thọ.

3.2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng giá trị cao

Trên cơ sở quy hoạch, cần định hướng và khuyến khích nông dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng một cách mạnh mẽ. Thay vì tập trung vào cây lúa, ngô năng suất thấp, cần ưu tiên phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn như rau an toàn, hoa, cây ăn quả (bưởi, chuối tiêu hồng), và các loại cây dược liệu. Trong chăn nuôi, cần chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại theo hướng an toàn sinh học, áp dụng quy trình VietGAP. Các mô hình này không chỉ mang lại thu nhập cao hơn cho người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm sạch, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn Lâm Thao.

IV. Bí quyết nâng cao giá trị qua ứng dụng công nghệ và liên kết

Công nghệ và liên kết là hai đòn bẩy quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho nông sản Lâm Thao. Việc tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào mọi khâu của quá trình sản xuất, từ giống, canh tác, thu hoạch đến bảo quản, là yêu cầu bắt buộc. Huyện cần tập trung vào nông nghiệp công nghệ cao Lâm Thao, như nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới nhỏ giọt, cảm biến thông minh để tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và nâng cao năng suất. Đồng thời, việc xây dựng và củng cố mô hình liên kết 4 nhà là giải pháp đột phá để tổ chức lại sản xuất. Cần phát huy vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, làm đầu mối kết nối nông dân với doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà quản lý. Mối liên kết chặt chẽ này sẽ giúp giải quyết bài toán về vốn, công nghệ, đầu ra sản phẩm, và hình thành các chuỗi giá trị nông sản Phú Thọ một cách bền vững, đảm bảo hài hòa lợi ích cho tất cả các bên tham gia.

4.1. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ cao vào sản xuất

Để tạo ra bước đột phá về năng suất và chất lượng, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật phải được xem là ưu tiên hàng đầu. Huyện cần có chính sách khuyến khích các hộ dân, trang trại đầu tư vào các công nghệ tiên tiến như: sử dụng giống mới kháng sâu bệnh, áp dụng quy trình canh tác hữu cơ, nông nghiệp hữu cơ, sử dụng phân bón thông minh, và công nghệ sinh học trong phòng trừ dịch hại. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, giúp tăng cường minh bạch và xây dựng niềm tin với người tiêu dùng. Việc đầu tư vào công nghệ không chỉ giúp giảm chi phí, tăng hiệu quả mà còn là con đường tất yếu để hướng tới một nền nông nghiệp bền vững.

4.2. Xây dựng chuỗi giá trị nông sản thông qua mô hình liên kết 4 nhà

Mô hình liên kết 4 nhà là chìa khóa để giải quyết các điểm nghẽn trong sản xuất và tiêu thụ. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua các chính sách hỗ trợ nông dân, quy hoạch và đầu tư hạ tầng. Nhà khoa học cung cấp giải pháp kỹ thuật, giống mới và quy trình sản xuất tiên tiến. Doanh nghiệp là hạt nhân của chuỗi giá trị, đảm nhận vai trò cung ứng vật tư đầu vào, tổ chức chế biến và tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản. Nông dân, thông qua các hợp tác xã nông nghiệp, trở thành đối tác tin cậy, sản xuất theo đúng hợp đồng và tiêu chuẩn. Khi mô hình này vận hành trơn tru, nó sẽ tạo ra một chuỗi giá trị nông sản Phú Thọ khép kín, giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận cho người nông dân.

V. Cách xây dựng thương hiệu nông sản và các chính sách hỗ trợ

Giải pháp cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là tập trung vào việc xây dựng thương hiệu nông sản và hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ. Thương hiệu là "giấy thông hành" giúp nông sản Lâm Thao vươn ra thị trường lớn và khẳng định giá trị. Huyện cần hỗ trợ các cá nhân, tổ chức xây dựng và đăng ký nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, cần tập trung phát triển các sản phẩm OCOP Lâm Thao (Mỗi xã một sản phẩm) để tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, mang đậm bản sắc địa phương. Để làm được điều này, vai trò của các chính sách hỗ trợ nông dân là cực kỳ quan trọng. Chính sách cần tập trung vào các lĩnh vực then chốt như: tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp công nghệ cao, hỗ trợ xúc tiến thương mại, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến. Một hệ thống chính sách đồng bộ, hiệu quả sẽ là bệ đỡ vững chắc cho quá trình phát triển nông nghiệp hàng hóa.

5.1. Phát triển sản phẩm OCOP và chiến lược xây dựng thương hiệu nông sản

Chương trình OCOP là một hướng đi chiến lược để nâng tầm giá trị nông sản. Huyện Lâm Thao cần lựa chọn các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế để tập trung đầu tư, hỗ trợ các chủ thể từ khâu hoàn thiện quy trình sản xuất, thiết kế bao bì, nhãn mác đến quảng bá sản phẩm. Việc xây dựng thương hiệu nông sản cần được thực hiện bài bản, gắn liền với câu chuyện sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng (VietGAP, GlobalGAP) và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Các sản phẩm OCOP Lâm Thao thành công sẽ trở thành đại sứ thương hiệu cho cả nền nông nghiệp của huyện, mở đường cho các sản phẩm khác tiếp cận thị trường và nâng cao niềm tự hào của người dân địa phương.

5.2. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân và vai trò của hợp tác xã

Các chính sách hỗ trợ nông dân cần được thiết kế một cách thực chất và dễ tiếp cận. Thay vì hỗ trợ dàn trải, cần tập trung nguồn lực cho các mô hình sản xuất hiệu quả, các dự án liên kết chuỗi giá trị và các HTX hoạt động tốt. Chính sách tín dụng cần linh hoạt hơn, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận vốn để đầu tư, mở rộng sản xuất. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực cho các hợp tác xã nông nghiệp. HTX phải thực sự là tổ chức của nông dân, do nông dân và vì nông dân, có khả năng cung cấp các dịch vụ thiết yếu như vật tư đầu vào, kỹ thuật, và đặc biệt là đàm phán, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp. Một hệ thống HTX vững mạnh sẽ là nền tảng để tổ chức sản xuất hàng hóa thành công.

03/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 1. Cơ sở lý luận về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm ngành nông nghiệp và phát triển nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.

Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là một hệ thống sinh học - kỹ thuật. Một mặt, cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo những quy luật sinh học nhất định, trong đó con người không thể ngăn cản quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn những quy luật để có những giải pháp thích hợp với chúng. Mặt khác, quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng.

Phát triển nông nghiệp là quá trình thay đổi nền nông nghiệp ở giai đoạn sau so với giai đoạn trước và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất. Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (khối lượng sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn chủng loại và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu xã hội về nông nghiệp. Trước hết, phát triển nông nghiệp là một quá trình, chịu sự tác động của quy luật thị trường, chính sách, ứng xử của người sản xuất, người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp. Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp (Đỗ Kim Chung, 2008).

Tăng trưởng trong nông nghiệp thể hiện tại một thời điểm có nhiều đầu ra so với giai đoạn trước, chủ yếu phản ánh sự thay đổi về kinh tế và tập trung download by : skknchat@gmail.com 6 nhiều mặt lượng. Tăng trưởng nông nghiệp thường được đo bằng mức thu nhập quốc dân, mức tăng về sản lượng và sản phẩm nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp thể hiện cả về lượng và chất. Phát triển nông nghiệp không những bao hàm cả tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền nông nghiệp, sự thích ứng của nông nghiệp với hoàn cảnh mới, sự tham gia của người dân trong quản lý và sử dụng nguồn lực, sự phân bố của cải và tài nguyên của các nhóm dân cư trong nội bộ ngành nông nghiệp trong nội bộ nông nghiệp và giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế.

Phát triển nông nghiệp còn bao hàm cả kinh tế, xã hội, tổ chức, thể chế và môi trường. Vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Thứ nhất, ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển là những nước còn nghèo, đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nước đó.

Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà hiện nay, mặc dù trình độ khoa học - công nghệ ngày càng phát triển nhưng vẫn chưa ngành nào có thể thay thế được. Xã hội càng phát triển, đời sống con người ngày càng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại. Các nhà kinh tế học đều thống nhất cho rằng, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực. Có thể chọn con đường nhập khẩu lương thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợi hơn, nhưng điều đó download by : skknchat@gmail.com 7 chỉ phù hợp với các nước như Singapore, Ả rập Saudi hay Brunei mà không dễ gì đối với các nước như Inđônêxia, Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam là những nước đông dân.

Các nước đông dân muốn nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùng phải sản xuất trong nước. Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển thì sẽ khó thu hút được đầu tư để phát triển bền vững, lâu dài. Thứ hai, nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực thành thị, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn.

Vì thế khu vực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường. Khu vực nông nghiệp còn là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì nông nghiệp là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra từ thuế nông nghiệp, tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động download by : skknchat@gmail.com 8 phi nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản,… Những điển hình thành công về sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho công nghiệp.

Ngoài ra cần phải khai thác các nguồn khác một cách hợp lý, không nên cường điệu quá vai trò của vốn tích luỹ trong nông nghiệp. Thứ ba, nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp và dịch vụ.Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển.

Đặc điểm của ngành nông nghiệp. Thứ nhất, Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống, có lịch sử phát triển lâu đời. Do đó có nhiều đặc điểm trì trệ lạc hậu vẫn còn tồn tại trong sản xuất. Mặc dù tiến bộ khoa học kỹ thuật , đã áp dụng máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất nhưng nhiều vùng người dân vẫn áp dụng những kỹ thuật cũ để sản xuất, không muốn thay đổi.

Cần phải cải tạo những đặc điểm không phù hợp, bảo thủ, trì trệ này để phát triển ngành nông nghiệp. Thứ hai, Nông nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người. Lương thực là sản phẩm chỉ có ngành nông nghiệp sản xuất ra. Theo thuyết nhu cầu của Maslow thì nhu cầu được sinh tồn là nhu cầu quan trọng nhất.

Chính vì vậy, nước nào cũng phải sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực. Thứ ba, phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên và đất đai: Mỗi vùng có những đặc trưng riêng về đất, khí hậu, địa hình… phù hợp với phát triển sản xuất một số loại nông sản nhất định, tạo nên đặc sản của từng vùng. download by : skknchat@gmail.com 9 Mỗi vùng tìm cho mình những sản phẩm thích hợp để phát triển, khai thác lợi thế. Sản xuất nông nghiệp là ngành phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh khách quan không can thiệp được, do đó mang tính rủi ro cao.

Khả năng thất thu, mất mùa có thể do các nguyên nhân như lũ lụt, mưa bão, hỏa hoạn, bệnh dịch… Do đó cần có những chính sách bảo hiểm để giảm những rủi ro đó. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động. Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ, một lực lượng lớn lao động trong ngành nông nghiệp thiếu việc làm theo mùa vụ. Cần đa dạng hóa sản phẩm, thâm canh tăng vụ để vừa khai thác tư liệu lao động, tạo thu nhập và giải quyết tình trạng thất nghiệp mùa vụ.

Thứ tư, Nông nghiệp là ngành sản xuất đòi hỏi nhiều lao động. Công việc trong ngành này không đòi hỏi trình độ cao, việc dễ làm nhưng đòi hỏi nhiều về lao động. Đây cũng là một thuận lợi để giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, thu nhập trong ngành còn thấp nên hiện tượng thiếu việc làm còn nhiều.

Hiện lao động trong ngành nông nghiệp còn chiếm một tỉ trọng lớn, cần chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ nhiều hơn nữa. Trong nông nghiệp cần nâng cấp sang ngành sử dụng nhiều vốn, nâng cao năng suất. Thứ năm, đây là ngành kinh tế có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng về giá trị sản xuất trong tổng nền kinh tế cao tuy nhiên tỷ trọng lao động và sản phẩm có xu hướng giảm trong quá trình phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ