Đặt vấn đề Mọi ngành khoa học muốn phát triển điều tất yếu đầu tiên là nguồn lực con người, do đóđể có nguồn nhân lực tốt thì công tác đào tạo là nhiệm vụ hàng đầutrong đó yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất là giảng viên. Trong những năm qua hệ thống các trường đại học phát triển một cách nhanh chóng, ồ ạt với số lượng sinh viên đại học tăng gấp nhiều lần trong khi lực lượng giảng viên bổ sung lại không đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng. Đặc biệt, đối với các môn cơ sở của các ngành kỹ thuật như Cơ học, việc đào tạo chuyên ngành đang gặp nhiều khó khăn nên đội ngũ chuyên gia được đào tạo một cách chuyên sâu đang ngày càng giảm dần và để thay vào đó, các trường đại học buộc phải tuyển dụng những người có chuyên môn khác đã học qua chương trình cơ học về giảng dạy các môn cơ học. Điều này, trong một chừng mực nào đó, làm giảm đáng kể chất lượng đào tạo các môn cơ học nói riêng và chất lượng đào tạo kỹ sư nói chung.
Vì vậy, việc bảo đảm để có một đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn là vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách. Số lượng cán bộ giảng dạy các môn cơ học trong các trường đại học, cao đẳng trong cả nước ước tính khoảng 4000 – 6000 người. Một số ít trong đó (chủ yếu là những người lớn tuổi – trên 50 tuổi) được đào tạo đúng ngành và có học vị cao, phần lớn còn lại là những người được đào tạo từ các ngành kỹ thuật có học các môn cơ học được các cơ sở đào tạo tuyển dụng để giảng dạy các môn cơ học. Các đối tượng này nếu được đào tạo tiếp tục lên các bậc học cao hơn của chuyên ngành mình được đào tạo ở bậc đại học (xây dựng, cơ khí, công trình, …) thì sẽ quay lại công tác hoặc giảng dạy các môn học của chuyên ngành đó chứ không tiếp tục giảng dạy các môn cơ học.
Vì vậy, đội ngũ cán bộ giảng dạy các môn cơ học trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay đang thiếu và yếu là một thực tế đáng báo động. Trước thực trạng trên, phải có một chiến lược dài hạn cũng như những giải pháp trước mắt để giải quyết sự thiếu hụt và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy các môn cơ học là một việc làm cấp thiết nhằm đảm bảo chất lượng đào 14 Luan van tạo của các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong lĩnh vực này. Một trong những công việc quan trọng để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên cơ học trong các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật công nghệ là cần phải khảo sát nhu cầu giảng viên, cán bộ nghiên cứu và ứng dụng cơ học trên phạm vi toàn quốc nhằm nắm được số lượng, chất lượng, nguyện vọng của giảng viên cơ học, từ đó đề ra giải pháp toàn diện. Cùng với các ngành Khoa học cơ bản khác, ngành Cơ học được hình thành và phát triển ở Việt Nam từ rất sớm.
Trong những ngày đầu dựng nước và giữ nước, các nhà khoa học hàng đầu của ta lúc bấy giờ như GS. Tạ Quang Bửu, GS. Trần Đại Nghĩa,… Cùng với các nhà khoa học đàn anh khác đã lao vào thực tiễn của cuộc kháng chiến, kết hợp nghiên cứu ứng dụng và triển khai kỹ thuật, đã đưa ra phục vụ kịp thời yêu cầu tác chiến hàng loạt các vũ khí tự chế tạo. Có thể nói, hệ thống các loại vũ khí đặc biệt trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này của dân tộc là kết quả của ý chí kiên cường, tích cực sáng tạo vì đại nghĩa của các thế hệ đàn anh và cũng thể hiện những thành tựu ứng dụng Cơ học của chúng ta trên cơ sở tận dụng những kết quả nghiên cứu cơ bản về Cơ học và các ngành khoa học và công nghệ khác của thế giới lúc bấy giờ.
Sự hình thành và phát triển của ngành Cơ học như là một ngành khoa học hoàn chỉnh, là một tất yếu khách quan trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và khoa học Công nghệ của nước nhà. Quá trình đó thể hiện qua một số mốc cụ thể như sau: - Hình thành khoa Toán – Cơ ở Đại học Tổng hợp, Đào tạo cử nhân Toán Cơ phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu Cơ học. - Sự hình thành và phát triển một hệ thống các nhà trường Đại học Khoa học Công nghệ, trong đó Cơ học là một môn cơ bản trong chương trình Đào tạo và các bộ môn Cơ học ứng dụng gắn với chuyên ngành như sức bền vật liệu, cơ học kết cấu, cơ học thủy khí, cơ học đất đá và môi trường rời, cơ học máy,… - Sự ra đời và phát triển của viện Cơ học Việt Nam tập hợp những cán bộ Cơ học, chủ yếu là cán bộ Cơ học trẻ, được đào tạo cơ bản nhằm mục đích tập trung giải quyết những vấn đề Cơ học cơ bản vừa phục vụ cho các hướng Khoa Học – Công nghệ then chốt, vừa vươn tới trình độ cao, đi trước Công 15 Luan van nghệ trong nước và tiến kịp trình độ Quốc tế. Cùng với Viện Cơ học Việt Nam, còn có Viện Cơ học ứng dụng Thành phố Hồ Chí Minh, và nhiều Viện Cơ học mang tính ứng dụng cao phục vụ cho Khoa học – Công nghệ, cụ thể thuộc các Bộ, Ban, Ngành, Trường Đại học, Viện nghiên cứu và các địa phương.
- Sự ra đời của Hội Cơ học Việt Nam từ 30 năm nay đã góp phần tập hợp đông đảo các cán bộ Cơ học và liên quan đến cơ học, từ cán bộ công tác trong các nhà trường Đại học, các viện nghiên cứu, các cơ sở sản xuất, cơ quan quản lý, các tổng Công ty, và gần đây có thêm các nhà Cơ học Việt Nam đang công tác ở nước ngoài và các nhà Cơ học Quốc tế là nhân tố rất quan trọng thúc đẩy ngành Cơ học của nước nhà phát triển. Cơ học Việt Nam đã có cơ sở xuất phát tốt với thế hệ trẻ được lựa chọn có năng lực, được đào tạo từ Trường Đại học Tổng hợp và đặc biệt được đào tạo bài bản ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu với sự hình thành Viện Cơ học thuộc Viện KH-CN Việt Nam. Hội Cơ học Việt nam đã tập hợp các nhà Cơ học từ Viện Cơ học, khoa Toán cơ của Đại học Quốc gia, và đông đảo các nhà Cơ học ứng dụng từ các Viện và Đại học kỹ thuật chuyên ngành trong cả nước. Phần lớn các ngành kỹ thuật như Cơ khí, Chế tạo máy, Xây dựng, Giao thông Vận tải, hầm mỏ, thủy lợi, Khí tượng Thủy văn … đều giải quyết các vấn đề Cơ học.
Nhưng theo thời gian và sự khó khăn về nhiều mặt, chậm đổi mới về cơ chế. Một số nhà khoa học lớn tuổi hầu như chững lại về chuyên môn không đủ sức dắt dẫn thế hệ trẻ. Ngoài các đề tài nhỏ lẻ vẫn được thực hiện hàng năm, lực lượng trẻ chưa được giao chủ trì những đề tài lớn, bản thân họ chưa xác định được hướng đi rõ ràng về mặt học thuật, tự xây dựng tiềm lực, đủ sức bứt phá vươn lên. Công tác Đào tạo cán bộ nghiên cứu cơ bản về Cơ học chưa được đổi mới, nguồnđầu vào phần lớn không phải là học sinh xuất sắc do việc sử dụng sau khi tốt nghiệpkhông tạo được hấp dẫn, nguồn đào tạo nước ngoài về như trước kia nay không còn nữa.
Đa số giáo viên giảng dạy các môn Cơ học ở các trường Đại học kỹ thuật là tốt nghiệp các ngành Đại học kỹ thuật, chưa được tổ chức đào tạo lại để giảng dạy các môn Cơ học một cách bài bản, chính quy, có sự quản lý của Bộ giáo dục và đào tạo. 16 Luan van Đề tài “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành Cơ học trong các cơ sở giáo dục Đại học”sẽ đóng góp một phần quan trọng nhằm khắc phục những thiếu sót này.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Việc nghiên cứu tình trạng nguồn nhân lực của một lĩnh vực nhất định và đề ra các chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và xã hội là công việc được quan tâm lớn trên thế giới trong đó nhiều nghiên cứu tương tự đã được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong nhiều ngành khác nhau. Nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Microsoft, Ingalls [1] đã thực hiện báo cáo phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao nguồn nhân lực cho Microsoft trong đó vai trò lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng. Kazakovs [2] đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong đó nghiên cứu đã cho thấy rằng có 12 yếu tố ảnh hưởng và đã đề xuất giải pháp lập kế hoạch cho phát triển nguồn nhân lực.Johnson và cộng sự [3] cũng đã tập trung vào yếu tố quản lý thông tin nhằm phát triển nguồn nhân lực.
Xie và Erjia [4] phân tích và so sánh sự phát triển nguồn nhân lực các quốc gia với văn hóa khác nhau trong xu hướng cạnh tranh và từ đó tìm ra các yếu tố văn hóa ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực. Abdullahvà cộng sự [5] cũng đã phân tích chính sách phát triển nguồn nhân lực của Malaysia dựa trên chính sách quốc gia. Bircan và Gencler [6] phân tích nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững. Các nghiên cứu đều cho thấy rằng lập kế hoạch phát triển nguồn lực là một trong những phần phức tạp nhất trong quản lý nhân sự.
Việc nâng cao kiến thức và kỹ năng là một quá trình mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc mà các Trường Đại học và doanh nghiệp phải đầu tư nhằm nâng hiệu quả và chất lượng sản phẩm.Theo thống kê khảo sát năm 2005 của Hiệp hội Mỹ về đào tạo và phát triển cho thấy rằng rất nhiều tổ chức đã đầu tư khoảng 2,2% chi phí cho đào tạo và phát triển. Thời gian trung bình cho đào tạo nhân lực hàng năm khoảng 41 giờ và hầu hết các nhà quản lý nguồn nhân lực tại Mỹ tin rằng việc phát triển nguồn nhân lực phải là một nhiệm vụ quan trọng nhất của Phòng tổ chức nhân sự ([7]).