Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1. Nghiệp vụ bảo lãnh: 1. Lịch sử hình thành nghiệp vụ bảo lãnh trên thế giới: Nghiệp vụ bảo lãnh có từ thời kỳ trung cổ tại Hy Lạp, ban đầu rất sơ khai, thông qua những giao dịch trong quan hệ cá nhân với cá nhân rất đời thường. Sau đó, nghiệp vụ bảo lãnh mới chính thức có mặt trong giao dịch quốc tế và nhu cầu ngày càng tăng.
Chính vì vậy, các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ đã phát triển loại hình giao dịch này vào khuôn phép luật pháp. Từ đây, nghiệp vụ bảo lãnh được áp dụng trên thị trường nội địa Hoa Kỳ vào giữa những năm 60 và sau đó nó được “Quốc tế hóa” như là giải pháp hiệu quả bảo đảm cho nền thương mại và tài chính thế giới phát triển vào đầu thập kỷ tiếp theo. Ngày nay, nghiệp vụ bảo lãnh thực sự đã trở thành công cụ thông dụng nhất nhằm đảm bảo thực thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính trong các giao dịch ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bảo lãnh không chỉ được sử dụng trong mọi lĩnh vực các nước phương Tây mà còn rất phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như vùng Trung Đông, Đông Nam Á, Bắc Phi.
Ngay tại các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa trước đây như Đông Đức, Tiệp khắc, Ba Lan, Nam Tư… đều sử dụng bảo lãnh như là phương tiện bảo đảm trong giao dịch kinh tế và dân sự. Lịch sử hình thành nghiệp vụ bảo lãnh ở Việt Nam: Nghiệp vụ bảo lãnh được áp dụng tại Việt Nam từ cuối thập kỷ 80, trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Thời kỳ đó, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp quốc doanh tại Ngân hàng không được bảo đảm bằng tài sản tăng lên, cả hai bên vận dụng bảo lãnh của phía thứ ba nhằm khai thông ách tắc trong thể chế tín dụng. Do sự “tự phát” đó nên tính chất của bảo lãnh lúc bấy giờ bị sai lệch: Bảo lãnh không dựa trên cơ sở pháp lý về khả năng tài chính mà dựa vào uy tín, vị thế của Người bảo lãnh.
Hợp đồng tín dụng có thể được bảo lãnh bởi cơ quan quản lý các cấp như Ủy Ban Nhân Dân cấp huyện, tỉnh, hoặc thậm chí bởi các cơ quan của Đảng, tổ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức quần chúng như: Mặt trận, Đoàn thanh niên… Do vậy, bảo lãnh luôn là hình thức nhằm giúp Ngân hàng hợp lý hóa khoản vay. Kết cục là không ít trường hợp Người bảo lãnh không bao giờ có thể trả thay cho doanh nghiệp vay nợ, để rồi các bên đưa nhau ra tòa. Điều này cũng dễ hiểu đối với một nước có tốc độ phát triển kinh tế thị trường nhanh hơn tốc độ hoàn thiện hệ thống pháp luật như Việt Nam. Những năm gần đây, các Luật và văn bản dưới luật của nước ta đều đề cập đến bảo lãnh nhằm tạo ra một cơ sở pháp lý cho loại hình giao dịch này, đáp ứng nhu cầu tăng mạnh của giao lưu quốc tế.
Mặc dù chưa hoàn thiện nhưng hệ thống pháp luật Việt Nam đã bước đầu khai phá một hành lang cho một loại hình giao dịch mới. Định nghĩa bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau: - Xét về góc độ học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “Tín dụng chữ ký – Signature Credit”, là hoạt động sinh lời mà không phải bỏ vốn của các ngân hàng. - Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (khoản 12, Điều 20) quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay”. Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương, nhằm phòng ngừa những tổn thất cho Người thụ hưởng bảo lãnh do có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan.
Cho dù cách tiếp cận có khác nhau song nhìn chung các quan điểm đều thống nhất ở một điểm là: Bảo lãnh ngân hàng là một loại hình tín dụng của ngân hàng. Các bên tham gia trong nghiệp vụ bảo lãnh: Trong nghiệp vụ bảo lãnh thường có ít nhất 3 bên tham gia là: Người bảo lãnh, Người xin bảo lãnh và Người thụ hưởng bảo lãnh. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Người bảo lãnh – The Guarantor Là người phát hành thư bảo lãnh, thường là ngân hàng, tổ chức tín dụng hay tổ chức tài chính, gọi chung là ngân hàng.
Ngân hàng bảo lãnh phải là ngân hàng có uy tín, có khả năng tài chính, được bên thụ hưởng chấp nhận. Ngân hàng bảo lãnh có khi chỉ là ngân hàng phục vụ người xin bảo lãnh (trong trường hợp phát hành bảo lãnh trực tiếp); và cũng có khi là hai ngân hàng tham gia, trong đó một ngân hàng phục vụ người xin bảo lãnh, một ngân hàng phục vụ Người thụ hưởng (trong trường hợp bảo lãnh gián tiếp). Người xin bảo lãnh hay người được bảo lãnh – The Principal: Là người yêu cầu được ngân hàng bảo lãnh. Người xin bảo lãnh có thể là: - Người xuất khẩu (trong trường hợp bảo lãnh thực hiện hợp đồng).
- Người nhập khẩu (trong trường hợp bảo lãnh thanh toán). - Người đi vay, người mua hàng trả chậm (trường hợp bảo lãnh thanh toán). - Người tham gia dự thầu (trong trường hợp bảo lãnh dự thầu). Người thụ hưởng hay Người nhận bảo lãnh – The Beneficiary: Có thể là: - Người nhập khẩu (trong trường hợp bảo lãnh thực hiện hợp đồng).
- Người xuất khẩu, người cho vay (trong trường hợp bảo lãnh thanh toán). - Người mời thầu, chủ đầu tư (trong trường hợp bảo lãnh dự thầu). - Người nhập khẩu (trong trường hợp bảo lãnh tiền đặt cọc, tiền ứng trước). Ghi chú: Trong hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu và người nhập khẩu có thể vừa là người thụ hưởng vừa có thể là người xin bảo lãnh.
Ví dụ: trong hợp đồng mua bán thiết bị toàn bộ theo phương thức trả chậm, người xuất khẩu có thể yêu cầu người nhập khẩu phải có bảo lãnh thanh toán của ngân hàng; ngược lại, người nhập khẩu có thể yêu cầu người xuất khẩu phải có bảo lãnh tiền đặt cọc, bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay bảo lãnh bảo hành thiết bị máy móc. Bằng sơ đồ, ta biểu hiện mối quan hệ giữa các bên chính tham gia trong một nghiệp vụ bảo lãnh như sau: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NGÂN HÀNG BẢO LÃNH (2) (3) (1) Người xin Người thụ bảo lãnh hưởng bảo lãnh Trong đó: (1) Biểu thị mối quan hệ gốc, hợp đồng gốc (underlying contract ), là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. (2) Biểu thị mối quan hệ giữa người xin bảo lãnh và ngân hàng phát hành thư bảo lãnh, trong đó người xin bảo lãnh làm đơn yêu cầu ngân hàng phát hàng thư bảo lãnh cho đối tác trong hợp đồng gốc thụ hưởng. (3) Biểu thị mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và người thụ hưởng.
Khi hợp đồng bị vi phạm, ngân hàng bồi thường cho người thụ hưởng. Phân loại bảo lãnh ngân hàng: 1. Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh: ¾ Bảo lãnh trực tiếp (Direct Guarantee): - Là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng của người xin bảo lãnh cam kết bồi thường không hủy ngang trực tiếp cho Người thụ hưởng. - Sau khi đã bồi thường cho Người thụ hưởng, ngân hàng truy đòi bồi hoàn trực tiếp từ người xin bảo lãnh.
- Thông thường có ba bên tham gia là: Ngân hàng phát hành, Người xin bảo lãnh và Người thụ hưởng. Khi người thụ hưởng ở nước ngoài, thường có thêm một ngân hàng ở nước người thụ hưởng tham gia làm đại lý cho ngân hàng phát hành với nhiệm vụ thông báo thư bảo lãnh cho Người thụ hưởng. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp Ngân hàng (4) Ngân hàng Phát hành Thông báo (3) (4) (2) Người xin Người thụ (1) Bảo lãnh hưởng Trong đó: (1) Hợp đồng gốc được ký kết bởi Người xin bảo lãnh và Người thụ hưởng bảo lãnh. (2) Trên cơ sở hợp đồng gốc, khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành thư bảo lãnh và cam kết hoàn trả.
(3) Trường hợp không có ngân hàng đại lý, ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và chuyển tiếp cho Người thụ hưởng. (4) Trường hợp có ngân hàng đại lý, ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và chuyển cho Người thụ hưởng thông qua ngân hàng đại lý. ¾ Bảo lãnh gián tiếp (Indirect Guarantee): - Là loại bảo lãnh trong đó người xin bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng ở nước người thụ hưởng (gọi là ngân hàng bảo lãnh) phát hành thư bảo lãnh (gọi là bảo lãnh chính hay bảo lãnh gốc) và chuyển cho Người thụ hưởng. - Để bảo lãnh gián tiếp có hiệu lực thì ngân hàng chỉ thị phát hành một thư bảo lãnh cho ngân hàng bảo lãnh hưởng.
Thư bảo lãnh giữa hai ngân hàng này gọi là thư bảo lãnh đối ứng hay bảo lãnh giáp lưng (Counter Guarantee or Back-to-Back Guarantee). 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thời hạn của thư bảo lãnh đối ứng phải dài hơn thời hạn của thư bảo lãnh gốc ít nhất là 15 ngày, thông thường dài hơn 1 tháng, ngoài ra cam kết trả tiền của ngân hàng chỉ thị đối với ngân hàng bảo lãnh luôn là vô điều kiện. - Khi xảy ra vi phạm hợp đồng, thứ tự bồi hoàn như sau: Người thụ hưởng truy đòi ngân hàng bảo lãnh; sau đó ngân hàng bảo lãnh truy đòi ngân hàng chỉ thị; và cuối cùng, ngân hàng chỉ thị truy đòi người yêu cầu bảo lãnh. Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp có bốn thành phần tham gia: Người xin bảo lãnh (Principal); Ngân hàng chỉ thị (Instructing Bank); Ngân hàng bảo lãnh (Issuing Bank); Người thụ hưởng (Beneficiary).
Do ở cùng quốc gia với ngân hàng bảo lãnh nên quyền lợi của Người thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn. Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp: Ngân hàng (3) Ngân hàng Chỉ thị Bảo lãnh (4) (2) Người xin Người thụ (1) Bảo lãnh hưởng bảo lãnh Trong đó: (1) Hợp đồng gốc được ký kết bởi Người xin bảo lãnh và Người thụ hưởng bảo lãnh. (2) Trên cơ sở hợp đồng gốc, khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ thị cho ngân hàng đại lý phát hành thư bảo lãnh và chuyển cho Người thụ hưởng.