Chương 1: Đặt Vấn Để Đưa ra lý do và mục tiêu nghiên cứu của luận văn. “+ Chương 2: Cơ Sở Lý Luận và Phương Pháp Nghiên Cứu Trình bày những vấn dé lý luận liên quan đến mục tiêu nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu. 4 Chương 3: Tổng Quan C2 Mô tả tổng quát về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội Huyện Bình Chánh. rs? + Chương 4: Nội Dung Nghiên Cứu Các kết quả nghiên cứu được và dé xuất những mục tiêu, giải pháp cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Bình Chánh.
+ Chương 5: Kết Luận và Kiến Nghị Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thực Trạng Nền Nông Nghiệp Nước Ta Hiện Nay 2.1 Những Kết Quả Đạt Được về Sản Xuất Nong Nghiệp = Về giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2003 ước tăng 4,1%, do tiếp tục có sự chuyển đổi tích cực cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hóa. Diện tích gieo trồng lúa cả năm tuy giảm so với năm 2002 nhưng năng suất lúa ước tính tăng 0,4 ta/ha nên san lượng tăng 71,4 nghìn tấn. Đầm bảo nhu cầu lương thực trong nước và tăng khối lượng gạo xuất khẩu 17,9% so với năm 2002. Sản lượng cây công nghiệp hàng năm nhìn chung đạt thấp hơn so với năm 2002, do thời tiết điễn biến trong năm không thuận lợi (sản lượng bông, đay, mía, lạc đều giảm).
Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm như cao su, bồ tiêu, điều tăng, do giá có xu hướng tăng đã kích thích nông dân đầu tư mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất. Kết quả sản xuất các loại cây ăn quả cũng tăng so với năm trước. Chăn nuôi phát triển do nhu cầu thực phẩm tăng nhanh, nhiều chương trình hỗ trợ giống, kỹ thuật và vốn được thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương năm 2003, đàn trâu, bò, heo, đàn gia cầm và sản lượng thịt các loại đều tăng so với năm trước.
= Về giá trị sản xuất lâm nghiệp ước tăng 1,1% so với năm 2002. Do thời tiết khô hạn kéo dài và một số tỉnh vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ có kế hoạch giao thấp hơn năm trước nên diện tích rừng trồng tập trung, diện tích rừng được chăm sóc, điện tích khoanh muôi tái sinh đều tăng nhẹ, số cây trồng phân tán xấp xỉ số cây năm 2002. Sản lượng gỗ khai thác không tăng so với năm trước, do nhà máy giấy Bãi Bằng ngừng san xuất để nâng cấp dây chuyển nên sản lượng khai thác gỗ của vùng Đông Bắc giảm. Công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm hơn nên tình trạng cháy và phá rừng trong năm đã có chiều hướng giảm ổi rõ rệt: diện tích rừng bị cháy và bị phá hủy chỉ bằng 42,1% năm trước.
« Về giá trị sản xuất thủy sẩn năm 2003 tăng 9,5%, tăng cả đánh bắt và nuôi trồng do thời tiết thuận lợi và diện tích nuôi trồng thủy sn tăng. Sản lượng thủy sản cả năm ước tính đạt 2.794,6 nghìn tấn, tăng 5,6% so với năm trước, trong đó cá tăng 5,3%; tôm tăng 15,3%. Sản lượng thủy sản khai thác tăng nhẹ so với năm 2002. Sản lượng khai thác xa bờ tăng lên đã bù cho khai thác nội địa giảm bởi nguồn cá ngày càng ít và các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản nghiêm ngặt hơn.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng cả năm tăng 14,4% so với năm 2002, do diện tích nuôi trồng thủy san tăng 7,6% so với năm trước (trong đó diện tích nuôi tôm tăng 12,5%).2 Những Khó Khăn, Thách Thức cho Sản Xuất Nông Nghiệp Hiện Nay Thành tựu của nông nghiệp năm 2003 tuy to lớn và cơ bản nhưng chưa đều và chưa thực sự vững chắc. Trước hết trong sản xuất lương thực, sản lượng lúa năm 2003 của cả nước tăng trên 7,1 vạn tấn, trong khi đó sản lượng lúa của 2 vùng trọng điểm lúa là DBSH và ĐBSCL đều giảm so với năm 2002 (ĐBSH giảm 263 nghìn tấn, ĐBSCL giảm gần 185,5 nghìn tấn). Đó cũng là 2 vùng có mức độ tăng năng suất lúa thấp nhất, từ 0,1 đến 0,2 tạ/ha vụ so với mức tăng 0,4 tạ/ha của cả nước. Sự phụ thuộc quá lớn vào thời tiết trong sản xuất và thị trường thế giới về tiêu thụ và giá cả là điểm yếu kém nhất, sự thách thức lớn nhất của nông nghiệp nước ta hiện nay và có thể cả những năm tới.
Cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp và kết cấu hạ tầng nông thôn hiện nay còn nhiều bất cập và yếu kém, chưa đủ sức chống đỡ với hạn bán và mưa lũ, kể cả những địa phương đứng đầu về thủy lợi và thâm canh lúa như Thái Bình, An Giang. Đó là thách thức lớn trên con đường phát triển nông nghiệp hàng hóa theo hướng bền vững. Sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản Việt Nam còn thấp và chưa ổn định, kể cá nông sản xuất khẩu lớn như gạo, cà phê, chè, cao su. Đó là những bất cập thể hiện tính bén vững chưa cao của nông nghiệp Việt Nam và cũng là thách thức lớn của ngành này trên đường hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.
Do vậy, chủ trương và các giải pháp sắp tới của các ngành, các cấp từ Trung Ương đến địa phương phải đồng bộ từ sản xuất đến chế biến, thị trường giá cả, xuất khẩu. Các giải pháp chủ yếu là tập trung mọi nguồn lực của nhà nước, doanh nghiệp, hộ nông dân và thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là các công trình thủy lợi để tăng khả năng chống đỡ thiên tai, tăng tính bền vững của sản xuất nông nghiệp các vùng trong cả nước. Song song với phát triển sản xuất theo hướng thị trường cần thực biện tốt chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tăng chất lượng nông sản, gắn sản xuất với chế biến và xuất khẩu, ổn định và mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước, dap ứng các yêu cầu của hội nhập kinh tế va tăng trưởng bén vững.2 Tình Hình Chung về Sản Xuất Nông Nghiệp của Thành Phố Hiện Nay Năm 2003 hoạt động sản xuất của ngành nông, lâm, thủy sản của Thành phố có nhiều chuyển biến tốt, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn như: Diện tích đất và lao động nông nghiệp giảm nhiều đo ảnh hưởng đô thị hóa. - Bị hạn hán kéo dai.
- Nguồn nước bi ô nhiễm do các chất thải công nghiệp. -_ Chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng của nông thôn nông nghiệp một số vùng ngoại thành còn thấp. - Tỷ lệ nông nhàn còn khá cao. - Sự phân hóa giàu nghèo còn phổ biến.
Giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sắn vẫn tiếp tục tăng đáng kể theo xu hướng tích cực: giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chan nuôi, thủy sản. Điều này đã góp phân làm thay đổi bộ mặt của nông thôn ngoại thành trong xu thế phát triển của một thành phố được công nhận là trung (âm công nghiệp, thương mại, địch vụ của khu vực và cả nước.1 Nông Nghiệp » Trồng trọt Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt năm 2003 theo giá cố định đạt 750,2 tỷ đồng, bằng 95,8% so với năm trước, nhóm cây lương thực có hạt chỉ bằng 91,6%, nhóm cây công nghiệp hàng năm bằng 91%, riêng nhóm cây lương thực chất bột bằng 103%. Giá trị sản xuất theo giá thực tế đạt 922,6 tỷ đồng chỉ bằng 95,8% so với năm 2002. Nếu tính theo cơ cấu thì ngành trồng trọt chiếm 41,2% trong giá trị sản xuất nông nghiệp, giảm 2,2% so với năm trước.
Nhóm cây lương thực có hạt và nhóm cây rau, đậu vẫn chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất trồng trọt: cây lương thực có hạt chiếm 35%, cây rau, đậu chiếm 26%. > Cây hàng năm: diện tích gieo trồng năm 2003 đạt 67.974 ha, giảm gần 7.000 ha so với năm trước. Ngoài cây thức ăn gia súc tăng 670 ha và cây bắp tăng 237 ha, diện tích gieo trồng các loại cây trồng khác đều giảm. Giảm nhiều nhất là cây lúa (-6.
> Cây lâu năm: điện tích gieo trồng tập trung và phân tán hiện có khoảng 12.500 ha, trong đó cây công ngiỆệp chiếm 37%, cây ăn quả chiếm 55%, cây lâu năm khác 8%. Tình hình trồng trọt trong năm 2003 tiếp tục gặp khó khăn như năm trước là do những nguyên nhân sau: _ Thời tiết không thuận lợi cho gieo trồng cây ngắn ngày. Các dự ấn xây dựng khu dân cư, khu công nghiệp, dự án quy hoạch “treo” tiếp tục làm mất dân đất nông nghiệp. Giá đất quá cao, dân có tâm lý chờ giá, không yên tâm sản xuất.
- Cây bắp lai, bông vải trong vụ Đông Xuân dù sản xuất có lãi nhưng các công ty không mở rộng quy mô do chưa có điểm tiêu thụ. - Giá phân bón, công lao động tăng trong lúc giá nông sản không tăng kịp. - Vườn chuyên canh cây ăn trái cũng khó phát triển do vốn đầu tư ban đầu lớn. - Thực hiện chương trình trọng điểm “2 cây” của thành phố, cây rau an toàn có khả năng phát triển đúng theo kế hoạch vì đáp ứng được yêu cầu thiết thực hàng ngày của người dân nhưng chương trình trồng dita Cayene còn chậm do lượng giống chưa đủ và chất lượng chưa đồng đều.
= Chăn nuôi Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi theo giá cố định đạt 617,6 tỷ đồng, theo giá thực tế đạt 1. So với năm 2002, giá cố định tăng 6,5%, trong đó tăng nhiều nhất là giá trị sữa bò và đàn gia súc, riêng đàn gia cầm giảm 10,9% và chăn nuôi khác giảm 19,2%. Tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi theo giá thực tế đạt 46,9%, tăng 2%. Đây là xu hướng phát triển tích cực phù hợp với chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng — vật nuôi của thành phố: giảm ty trọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và thủy sản.
Nhìn chung, phong trào chăn nuôi của Thành phố phát triển tương đối Ổn định vì giá cả một số sản phẩm chăn nuôi đang tăng lên sau một thời gian bị sụt giảm. Nhà nước cũng đã cải tiến trong việc cho vay vốn hỗ trợ phát triển sản xuất nên nhiều hộ chăn nuôi đã đầu tư mở rộng quy mô. Tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm không xảy ra quy mô lớn trên dia bàn.