Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế trang trại 1. Trang trại và kinh tế trang trại Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến [4]. Một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi từ bỏ sản xuất tự cung tự cấp khép kín, vươn lên sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh.
Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ: Ferme (tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh)…, được hiểu chung là nông dân- chủ trang trại gia đình. Các thuật ngữ trên được hiểu chung là nông dân, chủ trang trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung. [3] Theo Mác: trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của trang trại là mang lại hiệu quả kinh tế cao “Ngay cả nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn, mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm thuê” [6] Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn kỹ thuật, có thể mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng hóa từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường. Về thực chất “trang trại” và “kinh tế trang trại” là những khái niệm không đồng nhất.
Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản n 6 xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó [8]. Các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và phát triển của trang trại có thể tóm lược thành hai nhóm đó là quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài và quan hệ giữa trang trại với môi trường bên trong. Quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài bao gồm hai cấp độ, môi trường vĩ mô (cơ chế, chính sách chung của Nhà nước,…) và môi trường vi mô (các đối tác, khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh tranh,.) các quan hệ nội tại bên trong trang trại rất đa dạng và phức tạp như các quan hệ về đầu tư, phân bổ nguồn lực cho các ngành, các bộ phận trong trang trại, các quan hệ lợi ích kinh tế liên quan đến việc phân phối kết quả làm ra, trong đó lợi ích của chủ trang trại với tư cách là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất và lợi ích của người lao động làm thuê là rất quan trọng. Để tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển thì các quan hệ về lợi ích phải được giải quyết một cách thỏa đáng.
Ngoài mặt kinh tế, trang trại còn có thể được nhìn nhận từ mặt xã hội và môi trường. Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó các mối quan hệ xã hội đan xen nhau. Về mặt môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong đó diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái trang trại có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng.
Ba mặt trên của trang trại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Sự kết hợp hài hòa ba mặt này sẽ đảm bảo cho kinh tế trang trại phát triển bền vững và bảo vệ tốt môi trường, sử dụng tối ưu các nguồn lực. Trong các mặt kinh tế- xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại. Vì vậy trong n 7 nhiều trường hợp khi nói đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của trang trại, người ta gọi tắt là trang trại [7], [5] Theo quan điểm hệ thống có thể thấy trang trại như là một tổ chức kinh tế mang tính hệ thống rõ rệt.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại có quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và trải qua ba công đoạn đó là đầu vào (inputs); quá trình (process) và đầu ra (outputs). Yếu tố đầu vào Quá trình SX và chế biến Kết quả sản xuất Đất đai Nhân lực Số lượng, chất lượng Vốn Cơ sở vật chất và cơ cấu sản phẩm Lao động Khoa học và công nghệ Hình thức, bao gói SP Tư liệu sản xuất Tổ chức quản lý Tổ chức tiêu thụ SP Kiến thức KHKT Thông tin Lợi nhuận Thông tin thị trường -Ba công đoạn này có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau -Một trong ba công đoạn trên gặp trục trặc dẫn đến cả hệ thống bị ngưng trệ -Nghiên cứu kinh tế trang trại phải đồng thời xem xét trên cả ba công đoạn của nó mới cho ta cái nhìn toàn diện và hệ thống về trang trại và kinh tế trang trại Hình 1. Sơ đồ tính hệ thống của trang trại Có thể nói rằng trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàn toàn tự chủ, sản xuất kinh doanh bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩm làm ra chủ yếu là để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình [8]. Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/04/2011 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc thay thế Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 13/06/2000 và Thông tư số 74/2003/TT- BNN, ngày 04/07/2003.
Qua đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau: 1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a. Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 hécta. Có giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên.
Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên, đồng thời thỏa mãn các điều kiện về quy mô đàn như sau: a. Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, …, chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 20 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên; trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 2,5 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại. Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, …; chăn nuôi sinh sản đối với lợn có thường xuyên từ 30 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi thịt đối với lợn có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê cừu thịt từ 300 con trở lên; trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 3 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại. Chăn nuôi gia cầm: Đối với gà, vịt, … thịt: có thường xuyên từ 5.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với gà, vịt, … đẻ (trứng thương phẩm, con giống, …) có thường xuyên từ 2.000 con trở lên; trường hợp có cả chăn nuôi đẻ và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 2,5 con sinh sản và ngược lại.
Đối với cơ sở chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm thì tiêu chí để xác định kinh tế trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên. Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 hécta và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên. Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản theo hình thức lồng bè thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên. * Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại: UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là UBND cấp huyện) là cơ quan cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trang trại.
* Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại gồm: 1. Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại thực hiện theo mẫu quy định. Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản. Đối với diện tích đất cá nhân, hộ gia đình đang sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ phải được UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) nơi có đất xác nhận là người đang sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.
Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới. Ở các nước phát triển, trang trại gia đình có vai trò to lớn và quyết định trong sản xuất nông nghiệp và đại bộ phận nông sản cung cấp cho xã hội được sản xuất ra trong các trang trại gia đình [9], [11]. Ở nước ta, kinh tế trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia đình) mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường. n 10 * Về mặt kinh tế: Mô hình kinh tế trang trại đã tạo bước chuyển biến cơ bản về giá trị sản phẩm hàng hóa, và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so với kinh tế hộ.
Hiện nay, tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ của trang trại ước tính hơn 19.826 tỷ đồng, bình quân một trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất gần 324.9 triệu đồng gấp 8 lần so với bình quân giá trị sản xuất của một hộ nông nghiệp. Tại vùng Tây Nguyên, giá trị sản phẩm hàng hóa của trang trại đạt bình quân gần 148.6 triệu đồng/trang trại/năm. Kinh tế trang trại đã thu hút, tạo việc làm cả nước cho hơn 395.