phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến cấu trúc gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về khu công nghiệp. Chƣơng 2: Câu hỏi, phƣơng pháp và chỉ tiêu nghiên cứu về khu công nghiệp. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên. Chƣơng 4: các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên đến năm 2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp 1. Khu công nghiệp và đặc điểm khu công nghiệp Định nghĩa ban đầu về khu công nghiệp đƣợc nêu trong Quy chế khu công nghiệp (KCN) ban hành theo Nghị định số 192-CP ban hành ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ thì KCN đƣợc hiểu là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống [14]. Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP, ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định về KCN, khu chế xuất, khu kinh tế thì khái niệm về KCN đƣợc hiểu nhƣ sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới, địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ [16].
Khu công nghiệp có các đặc điểm chủ yếu sau: + Khu công nghiệp có vị trí xác định, có thể có hoặc không có rào ngăn cách, không có dân cƣ sinh sống. + Khu công nghiệp đƣợc thành lập để thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp. + Khu công nghiệp đƣợc thành lập có khả năng thu hút vốn đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. + Khu công nghiệp có khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động.
+ Đơn vị chủ đầu tƣ khu công nghiệp thuê đất nhà nƣớc để đầu tƣ hạ tầng và thu tiền cho thuê đất, phí điều hành khu công nghiệp. + Đƣợc quản lý bởi một cơ quan chuyên trách là Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh, Thành phố theo cơ chế ủy quyền của các bộ ngành, với cơ chế một cửa, một đầu mối, ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp [14]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Khu công nghiệp khác với cụm công nghiệp. Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; đƣợc đầu tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập.
Nhƣ vậy khu công nghiệp và cụm công nghiệp giống nhau ở chỗ đều là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định , không có dân cƣ sinh sống, khác nhau ở chỗ cụm công nghiệp có quy mô nỏ hơn KCN, diện tích của cụm công nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 (năm mƣơi) ha. Trƣờng hợp cần thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vƣợt quá 75 (bảy mƣơi lăm) ha; quyết định thành lập khu công nghiệp do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định; quyết định cụm công nghiệp do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng quyết định [14]. Phân loại khu công nghiệp Ở Việt Nam, khu công nghiệp thƣờng đƣợc phân loại nhƣ sau: - Phân loại theo đặc điểm quản lý: Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ kỹ thuật cao. - Phân loại theo loại hình công nghiệp: Khu công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, khu công nghiệp thực phẩm.Tuy nhiên các khu công nghiệp hiện nay phần lớn là khu công nghiệp đa ngành phù hợp theo cơ cấu phát triển kinh tế và công nghiệp của khu vực.
- Phân loại theo mức độ độc hại: Đây là hình thức phân loại hay đƣợc đề cập tới bởi nó quyết định việc bố trí của khu công nghiệp so với khu dân cƣ cũng nhƣ các biện pháp để đảm bảo điều kiện về môi trƣờng. Mức độ vệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 sinh công nhiệp của khu công nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào loại hình công nghiệp bố trí trong khu công nghiệp. - Phân loại theo quy mô : + Quy mô lớn: trên 300 ha; + Quy mô vừa: từ150 đến 300 ha; + Quy mô nhỏ: dƣới 150 ha. Về trình độ công nghệ, có thể chia ra một số loại KCN tuỳ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ của các xí nghiệp phân bố trong KCN, khu công nghệ gồm các xí nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến thì gọi là khu công nghệ cao và ngƣợc lại.
Vai trò của khu công nghiệp - Thu hút vốn đầu tư để phát triển đất nước: KCN với đặc điểm là nơi đƣợc đầu tƣ cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tƣ cùng đầu tƣ trên một vùng không gian lãnh thổ do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nƣớc. Với quy chế quản lý thống nhất và các chính sách ƣu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài; hơn nữa việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lƣợc kinh doanh của các tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ƣu đãi thuế quan từ phía nƣớc chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trƣờng mới ở các nƣớc đang phát triển. Do vậy, KCN giúp cho việc tăng cƣờng huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển kinh tế xã hội và là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc và là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài. Vốn đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài là một trong những nhân tố quan trọng giúp quốc gia thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nƣớc, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Mặt khác sự hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tƣ trực tiếp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 từ nƣớc ngoài đã tác động tích cực thúc đẩy sự lƣu thông và hoạt động của đồng vốn trong nƣớc. Việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong nƣớc đầu tƣ vào KCN bằng nhiều hình thức, đa dạng sẽ thu hút đƣợc một nguồn vốn lớn trong nƣớc tham gia đầu tƣ vào các KCN. đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong xã hội chƣa đƣợc khai thác và sử dụng hữu ích. Nguồn vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp trong nƣớc tham gia xây dựng hạ tầng KCN và đầu tƣ sản xuất trong KCN sẽ tạo sự tin tƣởng và là động lực thu hút các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào KCN.
Thực tế trong thời gian vừa qua, các KCN đã thu hút đƣợc khá nhiều các nguồn vốn cho mục tiêu đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nói chung và từng địa phƣơng nói riêng [10]. - Góp phần giải quyết công việc cho xã hội: Xây dựng và phát triển KCN đã thu hút một lƣợng lớn lao động vào làm việc tại các KCN và đã có tác động tích cực tới việc xóa đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cƣ đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên. Phát triển KCN góp phần quan trọng trong việc phân công lại lực lƣợng lao động trong xã hội, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trƣờng lao động có trình độ và hàm lƣợng chất xám cao. Quan hệ cung cầu lao động diễn ra ở thị trƣờng này diễn ra gay gắt chínhlà động lực thúc đẩy ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động phải rèn luyện và không ngừng học tập, nâng cao trình độ tay nghề.
Nhƣ vậy, KCN đóng góp rất lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế và hình thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại thông qua việc xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, liên kết gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm giữa các doanh nghiệp KCN với nhà trƣờng [17]. - Tăng kim ngạch xuất khẩu: Hàng hóa sản xuất ra từ các KCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số lƣợng hàng hóa xuất khẩu của địa phƣơng và của cả nƣớc nhờ hoạt động xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 khẩu của các doanh nghiệp KCN. Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp trong nƣớc cho các doanh nghiệp chế xuất hoạt động trong KCN và việc một số doanh nghiệp chế xuất tổ chức gia công một số chi tiết, phụ tùng, một số công đoạn tại các doanh nghiệp trong nƣớc góp phần vào quá trình nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm củacác doanh nghiệp. Ngoài ra, các KCN cũng đóng góp đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phƣơng và đóng góp chung cho nguồn thu của quốc gia… - Nâng cao hiệu quả nguồn lực: Sự thuận lợi về nguồn lao động, điện nƣớc, giao thông, liên lạc và bố trí các cơ sở vật chất đồng bộ, giúp cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc nhanh chóng hạn chế đến mức thấp nhất sự gián đoạn trong sản xuất do những điều kiện khách quan gây ra.
Công suất thiết bị đƣợc sử dụng cao nhất, hàng hóa đƣợc sản xuất ra cũng đƣợc nhanh chóng đƣợc đƣa vào lƣu thông, giảm thiểu chi phí vận chuyển bảo quản. Việc khai thác tài nguyên tập trung trở nên khoa học và có hiệu quả, tránh đƣợc sự lạm dụng khai thác triệt để, dẫn dến làm kiệt quệ các nguồn tài nguyên.