Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Kể từ khi Luật Hợp tác xã (HTX) năm 1996 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1997, khu vực kinh tế tập thể tại Việt Nam đã có bước chuyển biến mới về mặt tổ chức và phương thức hoạt động. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, các hợp tác xã kiểu mới từng bước được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi, kinh tế hợp tác xã nông nghiệp vẫn bộc lộ nhiều yếu kém: năng lực nội tại còn hạn chế, số lượng hợp tác xã hoạt động có hiệu quả chưa cao, lợi ích đem lại cho thành viên chưa thực sự rõ rệt. Những hạn chế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, bao gồm:

  1. Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và người dân về vai trò của kinh tế tập thể và mô hình hợp tác xã kiểu mới chưa thống nhất; công tác tuyên truyền chính sách chưa được quan tâm đúng mức.
  2. Bộ máy quản lý nhà nước đối với hợp tác xã có thời điểm bị buông lỏng hoặc lúng túng trong chỉ đạo tổ chức thi hành luật; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và tháo gỡ khó khăn về vốn, công nợ còn chậm.
  3. Tâm lý hoài nghi, mặc cảm với mô hình hợp tác xã kiểu cũ trong xã hội và nông dân vẫn còn khá phổ biến.

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài khóa luận "Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển, chuyển đổi và hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tây qua các mốc thời gian: trước năm 1996, giai đoạn 1997–2002 (sau 5 năm thi hành Luật HTX 1996) và giai đoạn 2003–2005 (thực hiện Luật HTX sửa đổi năm 2003).
  3. Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp nhằm củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Hà Tây giai đoạn 2005–2010.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung trên địa bàn tỉnh Hà Tây; phạm vi thời gian bao quát tiến trình lịch sử phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam và đi sâu khảo sát các số liệu thực tế tại Hà Tây từ trước năm 1996 đến năm 2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác, bao gồm quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản tính xã hội của lao động sản xuất và tính tất yếu của việc hợp tác hóa nông nghiệp; lý luận của nhà kinh tế học A. V. Chayanov (Traianôp) về vai trò của hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức bổ sung và phục vụ kinh tế hộ nông dân; quan điểm của I. V. Emilianoff (Êmiliannôp) về hợp tác xã như một tập hợp các xí nghiệp hộ thành viên vẫn giữ tính độc lập; cùng các định nghĩa chuẩn mực của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).

Về mặt pháp lý, đề tài căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật và chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam:

  • Luật Hợp tác xã năm 1996 (thông qua ngày 20/03/1996) và Luật Hợp tác xã sửa đổi năm 2003.
  • Nghị quyết số 16-NQ/TW (1959), Chỉ thị 100-CT/TW (1981), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX (Nghị quyết số 15-NQ/TW).
  • Các văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định 16/CP ngày 21/02/1997, Nghị định 02/CP, Nghị định 43/CP, Nghị định 64/CP về giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân và Quyết định 146/CP về xử lý nợ đọng.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa các quan điểm học thuật, mô hình tổ chức và nguyên tắc vận hành của hợp tác xã kiểu mới.
  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Phân tích các chuỗi số liệu thứ cấp qua các năm nhằm làm rõ sự biến động về số lượng hợp tác xã, cơ cấu vốn, doanh thu, lợi nhuận, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý và tỷ lệ phân loại hợp tác xã.
  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra xã hội học năm 1999 trên phạm vi cả nước; số liệu tổng hợp định kỳ và báo cáo chuyên đề của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây (giai đoạn 2001–2005) cùng báo cáo tài chính của các hợp tác xã trực thuộc các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế hợp tác và Hợp tác xã

Phần này phân tích bản chất, các nguyên tắc tổ chức cơ bản của kinh tế hợp tác (tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, có sự hỗ trợ của Nhà nước) và phân loại các hình thức hợp tác trong nông nghiệp (tổ hợp tác, hợp tác xã, câu lạc bộ nghề nghiệp, hiệp hội ngành hàng). Đồng thời, tác giả làm rõ 5 nguyên tắc và đặc điểm của hợp tác xã kiểu mới theo Luật HTX năm 1996, trong đó nhấn mạnh quan hệ bình đẳng giữa hợp tác xã và hộ kinh tế thành viên.

Phần I cũng tái hiện tiến trình lịch sử phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam qua 6 giai đoạn phát triển:

  1. Giai đoạn 1955–1958: Thí điểm xây dựng tổ đổi công và thành lập 42 hợp tác xã thí điểm tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa; sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 257 kg (1957) lên 334 kg (1959).
  2. Giai đoạn 1959–1960: Thực hiện phong trào hợp tác hóa quy mô lớn ở miền Bắc theo Nghị quyết 16-NQ/TW, đưa 2,4 triệu hộ (chiếm 84,8% số hộ) vào 41.000 hợp tác xã nông nghiệp.
  3. Giai đoạn 1961–1980: Đưa hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao và mở rộng quy mô toàn xã; mô hình bộc lộ nhiều hạn chế, chi phí tăng nhanh hơn thu nhập (giai đoạn 1973–1975 chi phí tăng 75% trong khi thu nhập chỉ tăng 23,75%), lương thực bình quân giảm xuống 10,4 kg/người/tháng năm 1980.
  4. Giai đoạn 1981–1988: Thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động theo Chỉ thị 100-CT/TW, tạo động lực ban đầu nhưng sau đó bộc lộ bất cập do quản lý bình quân, bao cấp.
  5. Giai đoạn 1986–1996: Chuyển đổi theo cơ chế thị trường và thực hiện Luật Đất đai 1993; giai đoạn 1988–1995 có 2.958 hợp tác xã và 33.804 tập đoàn sản xuất giải thể; đến năm 1995 cả nước còn 16.243 hợp tác xã, trong đó chỉ có 15,5% đơn vị hoạt động tốt.
  6. Giai đoạn từ 1997 đến nay: Triển khai Luật HTX năm 1996.

Dữ liệu điều tra xã hội học năm 1999 được tác giả tổng hợp để phản ánh quy mô và tiềm lực tài chính của các hợp tác xã sau chuyển đổi trên cả nước:

Vùng lãnh thổ Số HTX báo cáo Tổng số vốn (Triệu đồng) Vốn bình quân/HTX (Triệu đồng) Tài sản cố định bình quân/HTX (Triệu đồng) Tài sản lưu động bình quân/HTX (Triệu đồng)
Cả nước 1.948 1.092.744 177,0 - -
Miền Bắc 1.954 722.869 79,3 - -
Miền núi phía Bắc 354 369.994 30,7 - -
Đồng bằng sông Hồng 439 228.020 317,0 - -
Tây Nguyên 14 3.279 233,0 184,0 49,0
Đông Nam Bộ 24 9.416 392,0 269,0 123,0
Đồng bằng sông Cửu Long 4 3.163 790,0 615,0 175,0

Phần II: Thực trạng phát triển Hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Tây

Khóa luận đi sâu phân tích thực trạng phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tây qua ba giai đoạn:

1. Giai đoạn trước khi có Luật HTX năm 1996: Toàn tỉnh có 519 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó số hợp tác xã đổi mới có hiệu quả là 104 đơn vị (chiếm 20%), số hợp tác xã đổi mới bước đầu chiếm 66,5%, và hợp tác xã yếu kém chiếm 13,5% (điển hình tại Thư Phú - Thường Tín, Ngọ Xá, Hậu Xá - Ứng Hòa, An Tiến - Mỹ Đức, Quyên Cao - Ba Vì, Phương Viên - Hoài Đức). Tồn tại lớn nhất là nội dung hoạt động chung chung, vốn quỹ bị nợ đọng sản phẩm kéo dài (khoảng 35% vốn quỹ), chế độ thù lao cán bộ cào bằng (trích 1% sản lượng tính thuế nông nghiệp), chức năng quản lý nhà nước của chính quyền xã và hoạt động kinh tế của hợp tác xã bị lẫn lộn.

2. Giai đoạn 1997–2002: Tỉnh có 514 hợp tác xã nông nghiệp (235 hợp tác xã quy mô toàn xã, 279 hợp tác xã quy mô thôn/liên thôn). Đến ngày 01/01/2001, đã có 507 hợp tác xã tiến hành chuyển đổi; 451 hợp tác xã (chiếm 89%) được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; thu hút 98% hộ nông dân đăng ký tham gia; thành lập mới 01 hợp tác xã tại Thạch Hòa (huyện Thạch Thất) với 278 hộ xã viên. Có 95% hợp tác xã duy trì chỉ đạo điều hành sản xuất, 453 hợp tác xã tham gia chương trình sản xuất giống lúa nhân dân. Kết quả phân loại hợp tác xã giai đoạn này gồm: loại khá 36% (187 HTX), loại trung bình 46% (237 HTX), loại yếu 18% (91 HTX).

Về bộ máy quản lý, toàn tỉnh có 8.024 cán bộ tại các hợp tác xã có báo cáo (năm 2001). Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ còn hạn chế: chỉ có 15,1% cán bộ Ban quản trị đạt trình độ cao đẳng, đại học; 66,4% ở trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo. Mức thù lao bình quân của Chủ nhiệm hợp tác xã đạt 176,37 nghìn đồng/tháng (cao nhất 350 nghìn đồng/tháng, thấp nhất 50 nghìn đồng/tháng).

Chức danh Tổng số người Trình độ Đại học, Cao đẳng Trình độ Trung cấp Sơ cấp / Chưa đào tạo Thù lao bình quân (nghìn đồng/tháng)
Chủ nhiệm HTX 489 63 177 249 176,37
Ban quản trị khác 728 45 173 510 148,98
Trưởng ban kiểm soát 489 33 59 397 146,82
Kế toán trưởng 489 114 219 156 155,07
Tổng cộng cán bộ quản lý 8.024 648 1.214 6.162 128,70

3. Giai đoạn 2003–2005: Tính đến ngày 22/02/2005, toàn tỉnh có 521 hợp tác xã nông nghiệp (519 HTX chuyển đổi, 01 HTX thành lập mới, 01 HTX chưa chuyển đổi là Giới Đức - Ứng Hòa); ngoài ra có 01 HTX thủy sản (Đồng Tháp - Đan Phượng) và 03 HTX chăn nuôi lợn mới thành lập tại Đan Phượng, Hoài Đức, Sơn Tây. Tỷ lệ hợp tác xã được cấp đăng ký kinh doanh đạt 93,6% (487/520 HTX năm 2003).

Quy mô cung ứng dịch vụ của các hợp tác xã được mở rộng đáng kể trong năm 2004:

  • Dịch vụ tưới tiêu nước: 511 HTX đảm nhiệm (chiếm 98,1% số HTX), đáp ứng 95% nhu cầu của hộ xã viên.
  • Dịch vụ bảo vệ thực vật: 470 HTX (chiếm 90,2%), đáp ứng 40% nhu cầu.
  • Dịch vụ cung ứng giống: 400 HTX (chiếm 76,8%), đáp ứng 80% nhu cầu.
  • Dịch vụ khuyến nông: 424 HTX (chiếm 81%).
  • Dịch vụ điện nông thôn: 416 HTX (chiếm 79,8%).
  • Dịch vụ làm đất: 163 HTX (chiếm 31,3%).
  • Dịch vụ vật tư nông nghiệp: 162 HTX (chiếm 31,1%).
  • Dịch vụ tiêu thụ sản phẩm: 16 HTX (chiếm 3,1%).

Doanh thu bình quân của một hợp tác xã tăng từ 353 triệu đồng (năm 2001) lên 568 triệu đồng (năm 2004). Tỷ lệ hợp tác xã hoạt động có lãi tăng từ 60% (2001) lên 66,2% (2004); tỷ lệ hợp tác xã bị lỗ giảm từ 15% xuống còn 7,1%. Tuy nhiên, mức lợi nhuận bình quân còn thấp (chỉ đạt 25–30 triệu đồng/HTX) và phần lớn lợi nhuận bị ứ đọng do tình trạng nợ đọng sản phẩm trong xã viên. Tổng số nợ phải thu của toàn bộ hợp tác xã trong tỉnh lên tới 109.744 triệu đồng (bình quân 210,6 triệu đồng/HTX), trong khi tổng nợ phải trả là 82.253 triệu đồng (bình quân 157,8 triệu đồng/HTX).

Đến năm 2003, phân loại hợp tác xã theo tiêu chí thi đua của tỉnh ghi nhận: loại giỏi đạt 8,6% (45 HTX), loại khá 37,5% (194 HTX), loại trung bình 35% (182 HTX), loại yếu kém 19,1% (60 HTX). Đến năm 2004, tỷ lệ hợp tác xã đạt loại giỏi tăng lên 43,6%, loại trung bình chiếm 44,7% và loại yếu kém giảm còn 11,7%.

Phần III: Phương hướng, giải pháp phát triển HTX nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây

Khóa luận xác định các mục tiêu chiến lược và phương hướng phát triển kinh tế hợp tác tỉnh Hà Tây giai đoạn 2005–2010:

  • Mục tiêu tổng quát: Hoàn thiện mô hình tổ chức hợp tác xã kiểu mới trong mọi ngành nghề nông thôn trên cơ sở tự nguyện; đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa; khuyến khích các hình thức liên kết quy mô lớn hơn như liên hiệp hợp tác xã và liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp nhà nước.
  • Phương hướng tổ chức mô hình:
    • Xây dựng mô hình hợp tác xã hỗn hợp (kết hợp dịch vụ và sản xuất tập trung theo mô hình HTX Duy Sơn II - Quảng Nam) nhằm mở mang ngành nghề, tạo việc làm và gia tăng tài sản chung.
    • Phát triển các hợp tác xã chuyên dịch vụ (chuyên khâu làm đất, thủy lợi, cung ứng vật tư, bảo vệ thực vật hoặc dịch vụ tổng hợp).
    • Thúc đẩy liên kết kinh tế công - nông giữa hợp tác xã với doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác tại các vùng sản xuất hàng hóa tập trung.
    • Kiên quyết giải thể các hợp tác xã yếu kém chỉ tồn tại trên danh nghĩa mà xã viên không có nhu cầu duy trì.

Kết quả và đóng góp

  1. Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng: Công trình đã thống kê chi tiết quá trình chuyển đổi 519 hợp tác xã nông nghiệp cũ sang hoạt động theo Luật HTX tại tỉnh Hà Tây, chứng minh sự tham gia tự nguyện của 98% đến 99% hộ nông dân vào tổ chức hợp tác xã kiểu mới.
  2. Khẳng định đóng góp của HTX đối với kinh tế - xã hội địa phương:
    • Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng nông nghiệp của tỉnh bình quân đạt 6,3%/năm; tỷ trọng nông nghiệp chuyển dịch từ 41% (năm 2000) xuống 33% (năm 2004).
    • Tham gia kiên cố hóa hơn 500 km kênh mương bê tông nội đồng, tổ chức chuyển giao kỹ thuật đưa giá trị thu nhập bình quân đạt 49,5 triệu đồng/ha đất canh tác.
    • Trực tiếp giải quyết việc làm cho gần 500.000 lao động nông thôn thông qua tổ chức dịch vụ và dự án chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; giảm tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh xuống dưới 10%.
    • Ghi nhận và phân tích các mô hình hợp tác xã tiêu biểu hoạt động hiệu quả như: Võng Xuyên (Phúc Thọ), Đại Đồng (Thạch Thất), Lê Thanh, An Mỹ (Mỹ Đức), Hà Hồi (Thường Tín), Đông Sơn (Chương Mỹ), Phú Túc, Phú Văn (Phú Xuyên), Miêng Hạ (Ứng Hòa), Dương Liễu (Hoài Đức).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp gắn với thực tiễn cơ sở: Tác giả đã định hình rõ cơ chế phân định trách nhiệm giữa Ban quản trị, tổ dịch vụ và hộ gia đình; đề xuất cơ chế thù lao gắn với đơn giá dịch vụ thay cho phương thức trích 1% sản lượng tính thuế; kiến nghị cơ chế xử lý nợ đọng theo Quyết định 146/CP và kế hoạch đào tạo cán bộ chủ chốt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo tác giả tự nhận định, do thời gian và trình độ nghiên cứu có hạn nên việc phân tích chuyên sâu về các mô hình hợp tác xã chuyên ngành (thủy sản, chăn nuôi) mới chỉ dừng ở mức khái quát; các dữ liệu chi phí - doanh thu còn phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện sổ sách kế toán của các đơn vị cơ sở (khi mà năm 2003 vẫn còn gần 30% hợp tác xã chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo tài chính).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát các mô hình liên doanh, liên kết thực tế giữa hợp tác xã với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản; nghiên cứu cơ chế tín dụng nội bộ và các giải pháp pháp lý cụ thể nhằm xử lý dứt điểm công nợ đọng sản phẩm giữa hộ xã viên và hợp tác xã.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn tham khảo về phương pháp phân tích thực trạng hợp tác xã nông nghiệp cấp tỉnh.
  • Cán bộ quản lý hợp tác xã, cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp tại địa phương trong việc tham khảo mô hình tổ chức bộ máy, phương án tính thù lao dịch vụ và quy trình tổ chức chuyển đổi hợp tác xã theo luật định.
  • Các nghiên cứu lịch sử kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường (1996–2005).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân chia lịch sử phát triển hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam thành những giai đoạn nào? Văn bản phân chia thành 6 giai đoạn: (1) 1955–1958 (thí điểm tổ đổi công và HTX); (2) 1959–1960 (hoàn thành cơ bản hợp tác hóa ở miền Bắc theo Nghị quyết 16-NQ/TW); (3) 1961–1980 (đưa HTX bậc thấp lên bậc cao và mở rộng quy mô); (4) 1981–1988 (thực hiện cơ chế khoán theo Chỉ thị 100-CT/TW); (5) 1986–1996 (đổi mới cơ chế quản lý theo Luật Đất đai 1993); (6) Từ 1997 đến thời điểm nghiên cứu (thực hiện Luật HTX năm 1996 và Luật HTX năm 2003).

2. Thực trạng nợ đọng tài chính tại các hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Hà Tây năm 2003–2004 ra sao? Tổng số nợ phải thu của các hợp tác xã là 109.744 triệu đồng (bình quân 210,6 triệu đồng/HTX), trong đó nợ đọng sản phẩm trong dân chiếm 102.603 triệu đồng; tổng số nợ phải trả là 82.253 triệu đồng (bình quân 157,8 triệu đồng/HTX).

3. Khâu dịch vụ nào được các hợp tác xã nông nghiệp Hà Tây thực hiện nhiều nhất và ít nhất trong năm 2004? Khâu dịch vụ được thực hiện nhiều nhất là dịch vụ tưới tiêu nước (511 HTX, đạt 98,1%, đáp ứng 95% nhu cầu); khâu dịch vụ thực hiện thấp nhất là dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cho hộ xã viên (chỉ có 16 HTX làm, đạt 3,1% số HTX).

4. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp Hà Tây năm 2003 như thế nào? Tổng số cán bộ Ban quản trị là 1.248 người, trong đó trình độ đại học chiếm 5,3% (66 người), cao đẳng chiếm 13,1% (164 người), trung cấp chiếm 15,2% (190 người), và trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo chiếm tới 66,4% (670 người).

5. Mức thù lao của Chủ nhiệm hợp tác xã tại Hà Tây giai đoạn 2001–2003 được chi trả ra sao? Năm 2001, thù lao bình quân của Chủ nhiệm HTX là 176,37 nghìn đồng/tháng (cao nhất 350 nghìn, thấp nhất 50 nghìn). Đến năm 2003, mức thù lao bình quân đạt khoảng 200 nghìn đồng/tháng (cao nhất 800 nghìn, thấp nhất 100 nghìn đồng/tháng).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả đã phản ánh chân thực bức tranh chuyển đổi kinh tế hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Hà Tây trong giai đoạn bản lề thi hành Luật Hợp tác xã 1996 và Luật Hợp tác xã 2003. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về quy mô, vốn quỹ, công nợ và năng lực của bộ máy quản lý hợp tác xã cơ sở. Các định hướng và giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần tháo gỡ khó khăn về mặt thể chế và thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn Hà Tây phát triển bền vững.