CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 1.KHÁI NIỆM TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN. Tín dụng nông nghiệp nông thôn là tất cả các hoạt động tín dụng ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực Nông nghiệp Nông thôn, nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho các đối tượng nông nghiệp, nông thôn và người nông dân (Nguồn: Sổ tay tín dụng Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn). Trong đó: Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.
Một khu vực có ranh giới địa lý trong đó dân cư sinh sống chủ yếu là nông dân – những người có hoạt động nghề nghiệp là nông nghiệp hay các dân cư không phải là nông dân nhưng có quan hệ nghề nghiệp mật thiết với nông nghiệp. Nông thôn là nơi có mật độ dân cư, cơ sở hạ tầng, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn đô thị theo tiêu chí so sánh của quốc gia đó. Như vậy, lĩnh vực NNNT là một địa bàn mà ở đó hoạt động SXNN được coi là bao trùm. Tuy nhiên, với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, lĩnh vực NNNT không còn là khu vực hoạt động SXNN thuần túy mà có cả hoạt động công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn.ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN.
Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà nguồn vốn được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế - xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả. Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi 4 tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp còn phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay đúng thời hạn và tôn trọng các điều kiện khác ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện để nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp. Đặc điểm cơ bản của tín dụng nông nghiệp nông thôn.
Khách hàng vay để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn gồm: Hộ gia đình, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn; Cá nhân; Chủ trang trại; Các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn nông thôn; Tổ chức và cá nhân cung ứng các dịch vụ phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm và thuỷ sản; Các doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp, có cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn. Các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Cho vay chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông; Cho vay phát triển ngành nghề tại nông thôn; Cho vay đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn; Cho vay chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản và muối; Cho vay để kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nông, nghiệp và thủy sản; Cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn; Cho vay tiêu dùng nhằm nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn; 5 Cho vay theo các chương trình kinh tế của Chính phủ. Thời hạn cho vay: Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng, thời gian luân chuyển vốn, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của ngân hàng. Lãi suất cho vay: ngân hàng cho vay thực hiện mức lãi suất theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Agribank Việt Nam.
Hình thức cho vay: Ngân hàng và các TCTD mở rộng hình thức cho vay ngắn hạn trực tiếp đến hộ sản xuất, từng bước mở rộng việc cho vay trung hạn và dài hạn để phát triển cây dài ngày, chăn nuôi gia súc, mua sắm thiết bị máy móc, đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp nông thôn. Cơ chế bảo đảm tiền vay: Tổ chức tín dụng được xem xét cho khách hàng vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định hiện hành. Tổ chức tín dụng quy định rõ mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, điều kiện và thủ tục cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với từng đối tượng khách hàng, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đặc điểm kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng.
Kinh tế khu vực NNNT chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (SXNN) và một bộ phận phi nông nghiệp. Trong đó lực lượng lao động chủ yếu khu vực NNNT là hộ nông dân sản xuất nhỏ nhưng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm của khu vực nông thôn. Phần lớn phẩm này phục vụ nhu cầu tiêu dùng của gia đình, ít trao đổi ra thị trường. Một bộ phận khác trong kinh tế nông thôn sản xuất có tính hàng hóa, sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Ngoài ra, một bộ phận không thể thiếu ở khu vực NNNT là các doanh nghiệp thương mại cung cấp sản phẩm đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho sản xuất nông nghiệp góp phần phát triển các ngành nghề truyền thống ở nông thôn và tạo ra các ngành mới. Với những đặc điểm kinh tế, xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất và 6 hình thức tín dụng của ngân hàng như: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào chu kỳ sinh học và điều kiện tự nhiên: SXNN là một trong những ngành quan trọng và cơ bản của nền kinh tế quốc dân. Khác với các ngành khác, SXNN phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên hay nói cách khác hoạt động SXNN là sự kết hợp của hai quá trình tái sản xuất tự nhiên (cây trồng, vật nuôi) và tái sản xuất với sự tham gia trực tiếp của con người. Tuy nhiên, do trình độ dân trí thấp, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa đủ mạnh để ngăn chặn thiên tai kết quả SXNN thường không chắc chắn như công nghiệp và dịch vụ.
Đầu ra của sản phẩm nông nghiệp khá khó khăn: Với đặc thù nền sản xuất nông nghiệp chủ yếu sản xuất nhỏ và không gắn được với thị trường. Người nông dân ở nông thôn vẫn phát triển sản xuất theo thói quen dẫn đến nguy cơ bị tách rời khỏi thị trường; không gian hoạt động của nông dân quá hẹp, ít có cơ hội nghiên cứu và thu thập thông tin. Bên cạnh đó thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và giá cả không ổn đình gây khó khăn cho người sản xuất. Vì thế, để phát triển kinh tế NNNT bền vững thì bên cạnh việc hỗ trợ về vốn cho người dân mà cần phải có những mô hình sản xuất hiệu quả đảm bảo được chất lượng con giống, các yếu tố kỹ thuật cũng như đầu ra cho sản phẩm.
Nguy cơ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là khá cao nhưng tỷ lệ sinh lợi khá thấp: Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi nên hoạt động SXNN chịu sự chi phối rất lớn của các quy luật tự nhiên nên rủi ro trong hoạt động SXNN rất lớn. Hơn nữa năng suất lao động nông nghiệp nước ta còn thấp, lợi nhuận chưa cao. Do vậy, lãi suất cao sẽ dẫn đến người sản xuất không mạnh dạn vay vốn còn nếu lãi suất thấp thì hoạt động ngân hàng sẽ khó khăn. Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp cao: Hoạt động SXNN có sự không trùng lắp hoàn toàn giữa thời gian sản xuất và thời gian lao động.
Thể hiện ở chỗ, sức lao động, tư liệu sản xuất được sử dụng không đồng điều trong thời gian sản xuất, đồng thời chi phí sản xuất mỗi khâu và thu nhập mỗi khâu cũng khác nhau. Do đó, ngân hàng cần có những phương thức khai thác được lượng thừa vốn và đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong sản xuất nông nghiệp. 7 Sản xuất nông nghiệp mang tính đa dạng, phân tán nhỏ lẻ: Do địa bàn sản xuất nông nghiệp rộng, phân tán, sản phẩm đa dạng, tính chuyên môn hóa thấp và diễn ra theo hình thức xen cạnh, mùa vụ, dễ gặp nhiều tình huống bất ngờ. Hơn nửa phần lớn món vay nhỏ số lượng khách hàng vay nhiều.
Vì vậy việc thẩm định, giải ngân và theo dõi khoản vay cũng như thu hồi nợ gặp rất nhiều khó khăn.VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN. Tín dụng ngân hàng đối với nông nghiệp là đáp ứng các nhu cầu về nguyên, nhiên vật liệu, chi phí sản xuất cho mùa vụ, trang bị máy móc, nông cụ, cải tiến sản xuất…cho đầu tư phát triển nông nghiệp. Đó là các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho nông dân và các doanh nghiệp sản xuất ngành nông nghiệp nhằm chi phí về nguyên, nhiên liệu, giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ sâu, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, chi phí ngày công lao động. Tín dụng vào nông nghiệp nông thôn còn bao gồm các khoản vay trung, dài hạn để cái tạo đồng ruộng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, trồng cây ăn trái lâu năm, cây công nghiệp dài ngày, xây dựng kho tàng, cơ sở chế biến, các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ, mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.Vì vậy tín dụng NNNT giữ vai trò đặc biệt quan trọng với việc phát triển nông nghiệp nông thôn.
Cụ thể: Tín dụng góp phần hình thành thị trường tiền tệ ở nông thôn và giữ vai trò trung gian thu hút vốn, tài trợ cho sản xuất nông nghiệp: Vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế là yêu cầu cần thiết, nó đòi hỏi vốn đầu tư.