CHƯƠNG I C ơ SỞ LÍ LUẬN VÈ DNNVV VÀ HỒ TRỌ VÓN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐÓI VÓI DNNVV 1. n h ũ n g v ấ n đ è Cơ b ả n v ê D N N W TRONG NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm DNNVV Trước khi đi tìm hiểu về DNNVV chúng ta cần nắm được khái niệm về DN trong nền kinh tế thị trường. Theo luật doanh nghiệp năm 2005 thì: “Doanh nghiệp là tồ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ỗn định, có tài sản riêng, có đăng k í kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh”.
Có thể nói DN là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. DN được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Theo luật doanh nghiệp 2005 có các loại hình doanh nghiệp sau: doanh nghiệp tư nhân, công ty họp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Mỗi loại hình DN có đặc trưng riêng, từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.
Trên thế giới, khái niệm DNNVV đã được đề cập tới từ những năm đầu của thế kỉ XX. Đe đưa ra khái niệm về DNNVV đã có rất nhiều ý kiến khác nhau. Các tiêu chí được sử dụng để xác định DNNVV cũng rất phong phú như: số lao động, vốn đầu tư, doanh thu, năng lực sản xuất. Song hầu hết các quốc gia đều coi trọng tiêu chí về số lao động trong DN.
Ví dụ như: Tại Nhật Bản - DN sản xuất có số lượng lao động dưới 300 người và số vốn đăng kí dưới 100 triệu yên; DN bán buôn có số lao dộng dưới 100 người và vốn đăng kí là dưới 30 triệu yên ; DN bán lẻ và dịch vụ có dưới 50 người và số vốn đăng kí là dưới 10 triệu yên. 5 Tại Mỹ - DN có dưới 1000 lao động và có vốn đăng kí dưới 3 triệu USD. Và sở hữu độc lập, hoạt động trong nội địa, không có vai trò chi phối trong hoạt động của mình. Còn ở Việt Nam, để tạo điều kiện cho việc phát triển DNNVV, chính phủ đã ban hành nghị định 56/2009/NĐ_ CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp DNNVV.
Điều 3 Nghị định nêu rằng^Doan/t nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng kỷ kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” cụ thể như sau: Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô khu nhỏ vực Tổng Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động nguồn vốn vốn I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và thủy xuống trở xuống người đến 200 đồng đến 100 tỷ người đến 300 sản người đồng người II. Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và xây dựng xuống trở xuống người đến 200 đồng đến 100 tỷ người đến 300 người đồng người III. Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ xuống trở xuống người đến 50 đồng đến 50 tỷ người đến 100 người đồng người ( N g u ồ n : K h o ả n 1 , đ i ề u 3 N g h ị đ ị n h s ổ 5 6 / 2 0 0 9 / N Đ _ C P n g à y 3 0 / 6 / 2 0 0 9 ) 6 1.
Đặc điểm của D N N W 1. ưu thế của DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng thích nghi nhanh chóng với các nhu cầu và thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể bước vào thị trường mới mà không gây sự chú ý của các doanh nghiệp lớn, sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên có nhiều điểm mạnh: • Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động. Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người than dễ dàng. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sang tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng.
Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế. • sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao. 7 ĐÓ là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm, sẵn sang mạo hiểm. Trong trường họp thất bại cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thê làm lại từ đầu đựoc.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này có động cơ đe đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé và quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hang loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm. • Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn.
Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng họp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đạt được hiệu quả kinh tế- xã hội hoá cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế. • Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động 1. Hạn chế của doanlĩ nghiệp nhỏ và vừa - Quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mồi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị. - Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấp sản phẩm.
8 - Khó khăn trong cung cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường. - Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển,.nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh. - Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường. - Do tính chất nhỏ và vừa của nó nên các doanh nghiệp này gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động.
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường. Với những đặc điểm nổi bật của các DNNVV ở Việt Nam như trên, cộng với môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc hỗ trợ phát triến DNNVV là nhiệm vụ hết sức cần thiết đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của nền kinh tế. Vai trò của D N N W trong nền kinh tế thị trường Thực tế phát triển kinh tế thế giới cho thấy rằng DNNVV giữ một vị trí, vai trò hết sức quan trọng nhằm thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, đảm bảo ổn định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng. DNNVV cung cấp một lượng sản phẩm, dịch vụ đa dạng phong phú, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở Việt Nam, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp(khoảng 460.000 doanh nghiệp), sử dụng 50% lực lượng lao động của nền kinh tế và đóng góp khoảng 45% GDP hàng năm (nếu tính cả đóng góp của hợp tác xã, trang trại và các hộ kinh doanh cá thế thì khu vực này đóng góp tới 60% GDP).
Với một lực lượng sản xuất đông đảo như vậy, DNNVV đã tạo ra một khối lượng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển đa dạng về nghành nghề, quy mô, hình thức tổ chức kinh doanh DNNVV đã góp phần to lớn cho việc lấp chỗ trổng cho những thiếu hụt từ khu vực kinh tế quốc doanh, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của nhân dân để thu hút vốn đầu tư nền kinh tế, tăng thu nhập bình quân đầu người. Tạo ra nhiều việc làm vói chi p h í thấp Các cơ sở doanh nghiệp nhỏ và vừa rất thích họp với các phương pháp tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương tiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất. Trước tiên, do đặc tính phân bố rải rác của chúng.