Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam II Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam II 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm dịch vụ phi tín dụng 1. Dịch vụ ngân hàng Theo Philip Kotler và Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố, mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
Philip Kotler và Kellers (2006) định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Xét về giác độ Marketing, dịch vụ ngân hàng là những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhận được của khách hàng. Nếu theo Luật các tổ chức tín dụng (2017) tại Khoản 1 và Khoản 7 của Điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán.
Vì thế, cũng có thể hiểu rằng dịch vụ ngân hàng là nghiệp vụ về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, tiêu dùng, cất giữ tài sản, bảo mật,. qua đó ngân hàng sẽ tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch lãi suất, tỷ giá, thu phí từ chính những dịch vụ đó. Trong xu hướng phát triển ngân hàng của nền kinh tế như hiện nay, ngân hàng như một siêu thị hiện đại cung cấp hàng trăm, ngàn dịch vụ tiện ích phù hợp với từng nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng. Dịch vụ ngân hàng cần được xem xét theo hai khía cạnh khác nhau: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: DVNH là toàn bộ các hoạt động mà một ngân hàng có thể tạo ra như: thanh toán, ngoại hối, tín dụng; nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, cá nhân), góp phần trực tiếp hay gián tiếp đem lại 9 lợi nhuận và tăng thu nhập cho ngân hàng. Theo nghĩa hẹp: DVNH chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (huy động tiền gửi và cho vay). Trong khuôn khổ luận văn này, DVNH được xem xét theo nghĩa rộng, bao hàm tất cả những sản phẩm dịch vụ mà một ngân hàng thương mại hiện đang cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu tài chính của khách hàng. Các DVNH được đề cập ở đây sẽ bao gồm các hoạt động gắn liền với việc thu lãi, phí, hưởng hoa hồng do NHTM thực hiện thông qua việc phục vụ các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân nhằm tăng nguồn thu cho ngân hàng.
Phân loại dịch vụ ngân hàng a) Căn cứ vào tính chất nguồn thu thì DVNH được phân thành hai loại: Dịch vụ tín dụng ngân hàng và dịch vụ phi tín dụng ngân hàng. - Dịch vụ tín dụng: là hoạt động cấp tín dụng cho các tổ chức dưới các hình thức: Cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định. + Cho vay Dựa trên các tiêu chí xếp hạng tín dụng khách hàng, ngân hàng TMCP xem xét cấp tín dụng theo yêu cầu của khách hàng. Nếu căn cứ vào thời hạn vay, cho vay bao gồm hai loại: cho vay ngắn hạn (thường để đầu tư vào tài sản lưu động), cho vay trung-dài hạn nhằm đầu tư vào tài sản cố định, thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh).
Căn cứ vào đối tượng khách hàng chia thành cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp và các tổ chức. Căn cứ vào tính chất khoản cho vay chia thành cho vay bán buôn và cho vay bán lẻ. Cho vay bán buôn gồm: cho vay dự án, cho vay đồng tài trợ Cho vay dự án: Đây là loại cho vay nhằm giúp đẩy nhanh quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất. Theo đó, các dự án đầu tư của Nhà nước hay của 10 doanh nghiệp về phát triển sản xuất kinh doanh cơ sở hạ tầng, dịch vụ, đời sống,… nếu tính toán được hiệu quả kinh tế, có tính khả thi mà thiếu vốn thì ngân hàng sẽ cho vay dự án đầu tư, giúp đơn vị chủ đầu tư có vốn để hoàn thành dự án đầu tư.
Về bản chất, tài trợ dự án cũng là một hoạt động tín dụng thuộc phạm vi ngân hàng TMCP truyền thống. Cho vay đồng tài trợ: Về bản chất, cho vay đồng tài trợ là một sản phẩm tín dụng thuộc phạm vi của ngân hàng TMCP truyền thống. Tuy nhiên, do số vốn yêu cầu cho một giao dịch là rất lớn (400 - 500 triệu USD) dẫn đến mức độ rủi ro tập trung lớn. Chính vì vậy, đồng tài trợ là một giải pháp để các nhà cung cấp vốn cùng nhau san sẻ rủi ro đối với từng khách hàng và từng giao dịch cụ thể.
Cho vay bán lẻ: dịch vụ cho vay tiêu dùng, cho vay cá nhân (cho vay du học, cho vay mua ôtô, cho vay mua nhà trả góp, tài trợ dự án chuyên biệt…), cho vay cầm cố, thế chấp, cho vay hộ gia đình và cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ. + Chiết khấu Các ngân hàng thực hiện chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các doanh nghiệp lớn và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với ngân hàng khác. Với dịch vụ này, các NHTMCP giúp cho doanh nghiệp lớn khôi phục năng lực thanh toán, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn. Đây là dịch vụ được ưa chuộng không những đối với các khách hàng mà cả đối với ngân hàng vì có đảm bảo bằng giấy tờ có giá và rủi ro tín dụng thấp.
+ Bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng là cam kết của ngân hàng bảo lãnh được lập trên một văn bản để cam kết với bên có quyền (gọi là bên thụ hưởng bảo lãnh). Nếu khi đến hạn bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết đã nêu trong hợp đồng thì ngân hàng bảo lãnh sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. Thực chất, đây là hình thức tín dụng bằng chữ ký, không xuất vốn nhưng lại có rủi ro vì ngân hàng bảo lãnh buộc phải thực hiện cam kết bảo lãnh khi người bảo lãnh vì lý do nào đó không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. 11 + Cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là một giao dịch hợp đồng giữa hai chủ thể bao gồm bên chủ sở hữu tài sản và bên sử dụng tài sản, trong đó, bên chủ sở hữu tài sản (bên cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu tài sản.
Thực chất của cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, trong đó theo yêu cầu của bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên đi thuê sử dụng. + Bao thanh toán Đây là một hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hóa đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng. Dịch vụ này do một công ty “factor” (công ty thực hiện bao thanh toán) thực hiện nhằm giúp các doanh nghiệp bán những khoản nợ hiện có của mình để quay vòng vốn. Công ty “factor” xem xét, thẩm định đối tác mua hàng, nếu đồng ý tài trợ, sẽ ký hợp đồng “factor” với doanh nghiệp bán hàng.
Chênh lệch giữa giá trị hóa đơn và giá bao thanh toán tạo nên thu nhập cho các công ty “factor” lại là tổn phí tài chính cho doanh nghiệp bán hàng, con số này thường không nhỏ. - Dịch vụ phi tín dụng: Là những dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập bằng các khoản phí xác định thu được từ khách hàng, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Các dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng có thể phát sinh đồng thời với các hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi và tiền vay của khách hàng. Ngoài ra, cũng có một số dịch vụ phi tín dụng hoạt động độc lập với hoạt động tín dụng.
b) Căn cứ theo cách thức cung cấp dịch vụ, có thể chia DVNH thành 2 loại: Dịch vụ ngân hàng bán buôn, dịch vụ ngân hàng bán lẻ: + DVNH bán buôn là cách thức bán thông qua các trung gian tài chính (các NHTM, các quỹ,…) hoặc thông qua thị trường tài chính (như thị trường tiền tệliên ngân hàng để cho vay, thanh toán bù trừ,…) và đối với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn với những gói dịch vụ giá trị lớn. 12 + DVNH bán lẻ là những hình thức bán trực tiếp đến các cá nhân, gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số gói dịch vụ nhỏ lẻ đối với các công ty, tổ chức kinh tế lớn. Dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại: Theo quan điểm của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu khi nghiên cứu dựán: “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng Ngân hàng Việt Nam” cho rằngdịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ nào của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng mà khôngphảilàdịchvụtíndụng. “Dịch vụ phi tín dụng là loại hình dịch vụ khi được cung cấp bởi ngânhàng hoặc tổ chức tín dụng không phát sinh nghiệp vụ liên quan đến cung cấp và thu hồivốnđốivớikháchhàng” Có nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ phi tín dụng.
Xem xét, đánh giámột dịch vụ Ngân hàng có phải là dịch vụ phi tín dụng hay không còn tùy thuộcvào quan điểm đánh giá, giác độ đánh giá của từng tác giả.