phần mở đầu, luận văn gồm 5 chương, với cấu trúc như sau: Chuong 1: Téng quan nghiên cứu về thương mại điện tử Chương 2: Tổng quan nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng. thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 6. Tổng quan nghiên cứu Trong nền kinh tế toàn cầu, TMĐT đã trở thành một yếu tố cần thiết của chiến lược kinh doanh và là chất xúc tác mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế.
TMĐT hứa hẹn đem lại hiệu quả kinh doanh tốt hơn cho các DNNVV và phát triển kinh tế bền vững hơn cho các nước đang phát triển. TMĐT không chỉ mở ra những cơ hội kinh doanh mới, những sản phẩm và dịch vụ mới, những ngành nghề kinh doanh mới mà bản thân nó thực sự là một phương thức kinh doanh mới - Phương thức kinh doanh điện tử. Thật vậy, TMĐT ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong việc mang, lại cho các DN những lợi ích thiết thực và to lớn trong kinh doanh. Với tính hiệu quả trong việc cân bằng sân chơi, cùng với chiến lược và chính sách phù hợp, TMĐT có thể cho phép các DNNVV cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn.
Trong điều kiện phát triển và hội nhập nên kinh tế toàn cầu của Việt Nam, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển, các DN cần biết ứng dụng CNTT và TMĐT trong quá trình hoạt động kinh doanh Thực tế cho thấy những năm qua, TMĐT ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các DN trên cả nước và đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học về TMĐT và vấn đề ứng dụng, phát triển TMĐT trong và ngoài nước. Một trong số các nghiên cứu đó là: Nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng thay đổi thái độ sử dụng TMĐT ở Việt Nam. Tác giả: Nguyễn Anh Mai. Trong nghiên cứu này tác giả đã làm rõ được tính cấp thiết của việc ứng dụng TMĐT trong thời buổi phát triển kinh tế toàn cầu.
Nghiên cứu này đã chỉ ra vấn đề rằng: Mặc dù tốc độ phát triển của TMĐT trên thế giới đáng chóng mặt như thế thì vì sao ở Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở một mức khá khiêm tốn. Vậy thì, tính “sẵn sàng” và ứng dụng TMĐT trong các doanh nghiệp ở Việt Nam tại sao lại chậm trong thời đại CNTT bùng nỗ như hiện nay, đâu là rào cản để tiếp cận TMĐT của các DN? Thông qua hành vi của các mẫu nghiên cứu (khách hàng cá nhân) trong việc tham gia giao dịch TMĐT, đề tài đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng thay đồi thái độ sử dụng TMĐT ở Việt Nam. Tuy nhiên, hạn chế của đề tài này là tác giả đã thực hiện đo lường thang. đo thái độ người tiêu dùng của các nhà nghiên cứu nước ngoài vào điều kiện môi trường TMĐT ở Việt Nam mà không xét đến các yếu tố khác biệt như là: Khác biệt về văn hóa tiêu dùng, văn hóa kinh doanh, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và môi trường pháp lý.
Mặc dù vậy, cũng không thể phủ nhận được rằng kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam chưa sẵn sàng cho việc sử dụng Thương mại điện tử vì họ nhận thức được rủi ro về quá trình giao dịch và rủi ro về sản phẩm mua bán cao nhưng chưa nhận thức sự hữu ích về mặt kinh tế, quy trình và sản phẩm của nó. Nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hướng đến việc ứng dụng TMĐT trong các công ty sản xuất điện tử ở Malaysia”. Tác giả: Syed Shah Alam, Ali Khatibi, Hishamuddin Bin Ismail. Ng| n cứu này của nhiều tác giả nhằm hướng đến mục tiêu xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng TMĐT trong các công ty sản xuất điện tử ở Malaysia.
Thật vậy, bằng phương pháp phân tích hồi quy, nhóm tác giả đã kết luận rằng tính phức tạp và an ninh khi ứng dụng có tác động to lớn đến xu hướng sử dụng TMĐT trong các công ty điện tử ở Malaysia. Nghiên cứu này đã cung cấp cho các nhà lãnh đạo của các công ty sản xuất điện tử một sự hiểu biết nhất định khi có nhu cầu ứng dụng TMĐT trong công việc kinh doanh của công ty họ. Những người quan tâm đến việc thúc đẩy sử dụng TMĐT có thế tìm thấy ở nghiên cứu này những giải pháp hữu ích cho việc phổ biến rộng rãi TMĐT. Tuy nhiên, đề tài này chỉ nghiên cứu trong một phạm vi rất hẹp là những công ty sản xuất điện tử ở Malaysia.
Như vậy, nghiên cứu này không có tính tổng quát, đa dạng cho các loại hình doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả của nhóm tác giả. Nghiên cứu: “?hương mại điện tử và những vấn đề đặt ra”. Tác giả: Đào Trọng Nghĩa. Nghiên cứu này đã khái quát được những nhận thức cơ bản về TMĐT và bước đầu tông kết được thực tiễn hình thành và phát triển TMĐT trên phạm vi quốc tế.
Đề tài nghiên cứu đi sâu phân tích thực trạng tiếp cận TMĐT ở Việt Nam, đồng thời phân tích được các nhân tố quyết định đến sự phát triển TMĐT. Dựa trên kết quả nghiên cứu của tác giả, đề tài đã xác định được những vấn đề đặt ra cần thiết cho sự phát triển của TMĐT đó là: Kết cấu hạ tầng CNTT (công nghệ tin học, công nghệ truyền thông, hạ tầng Internet), nguồn nhân lực(Các chuyên gia CNTT, các doanh nghiệp và công chúng.), khuôn khổ pháp lý, môi trường kinh tế xã hội, hệ thống thanh toán tự động, tính an toàn và váo mật.Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết, các kết luận và giải pháp đưa ra chỉ dựa trên nghiên cứu tổng hợp, mang tính tham khảo phần nhiều và khả năng ứng dụng thực tiễn không cao. Nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng cúc công nghệ thương mại điện tử”. Tác giả: Ismail Sila, Tạp chí Thương mại điện tử tháng 5 nim 2013, Tập 13, Số 2, nhà xuất bản: Springer Mỹ.
Nghiên cứu này đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng TMĐT đối với các doanh nghiệp. Tác giả đã tiến hành một cuộc khảo sát trực tuyến với 275 mẫu là các doanh nghiệp ở Bắc Mỹ. Và đã kết luận rằng khả năng mở rộng, quy mô doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp và tư duy tiến bộ của các nhà quản lý doanh nghiệp là các yếu tố chính trực tiếp ảnh hưởng đến việc áp dụng TMĐT đối với các doanh nghiệp. Nghiên cứu này mang tính khái quát cao vì nó được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, nhiều loại hình doanh nghiệp với quy mô khác nhau.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến môi trường kinh doanh các nước cùng với hệ thống pháp lý ở mỗi quốc gia có chăng cũng là rào cản cho việc áp dụng TMĐT. Nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng thương mại điện tử và thành công kinh doanh của các DNNVV Thái”. Tác giả: Jantarajaturapath, Palan Khantong, Sommai. Nghiên cứu này là một nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thương mại điện tử thông qua và thành công kinh doanh của các DNNVV tại Thái Lan.
Nhóm tác giả đã kiểm định 7 giả thuyết để đi đến kết luận cuối cùng rằng : Năng lực CNTT, hỗ trợ của các tổ chức, sự tin tưởng và an ninh là tiền đề quan trong cho việc áp dụng TMĐT tại Thái Lan. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng TMĐT có ảnh hưởng to lớn đến sự thành công của Doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ áp dụng cho những DNNVV đã và đang ứng dụng TMĐT trong kinh doanh và đã thành công rồi rút ra các yếu tố làm nên sự thành công đó khi ứng dụng TMĐT mà không đề cập đến đâu là rào cản nhập cuộc TMĐT đối với các DNNVV tại Thái Lan. Các nghiên cứu trên đều đã phần nào làm sáng tỏ được những nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng TMĐT vào lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay.
Tuy nhiên vẫn cần thiết một nghiên cứu cụ thể cho một địa phương như Tỉnh Quảng Nam nhằm làm rõ sự khác biệt trong môi trường kinh doanh, xem xét cơ sở hạ tầng CNTT cùng với năng lực, tư duy và văn hóa của các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh như thế nào để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng TMĐT trong các DNNVV trên địa bàn từ đó đề xuất được các giải pháp góp phần đây mạnh ứng dụng TMĐT trong các DNNVV cho Tinh Quảng Nam. CHUONG 1 TONG QUAN NGHIEN CUU VE THUONG MAI DIEN TU 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIÊN CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 'Về nguồn gốc, thương mại điện tử được xem như là điều kiện thuận lợi của các giao dịch thương mại điện tử, sử dụng công nghệ như EDI và EFT. Cả hai công nghệ này đều được giới thiệu thập niên 70, cho phép các doanh nghiệp gửi các hợp đồng điện tử như đơn đặt hàng hay hóa đơn điện tử.
Sự phát triển và chấp nhận của thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM) và ngân hàng điện thoại vào thập niên 80 cũng đã hình thành nên thương mại điện tử. Một dạng thương mại điện tử khác là hệ thống đặt vé máy bay bởi Sabre ở Mỹ và Travicom ở Anh. 'Vào thập niên 90, thương mại điện tử bao gồm các hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP), khai thác dữ liệu và kho dữ liệu. Nam 1990, Tim Berners-Lee phat minh ra WordWideWeb trình duyệt web và chuyển mạng thông tin liên lạc giáo dục thành mạng toàn cầu được gọi là Internet (www).
Các công ty thương mại trên Internet bị cam bởi NSF cho đến năm 1995. Mặc dù Internet trở nên phổ biến khắp thế giới vào khoảng năm 1994 với sự đề nghị của trình duyệt web Mosaic, nhưng phải mất tới 5 năm để giới thiệu các giao thức bảo mật (mã hóa SSL trên trình duyệt Netscape vào cuối năm 1994) và DSL cho phép kết nối Internet liên tục. Vào cuối năm 2000, nhiều công ty kinh doanh ở Mỹ và Châu Âu đã thiết lập các dịch vụ thông qua World Wide Web. Từ đó con người bắt ên hệ voi tir "ecommerce" véi quyén trao đổi các loại hàng 10 hóa khác nhau thông qua Internet dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử.
KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ: Một số khái niệm thương mại điện tử được định nghĩa bởi các tổ chức. uy tín thế giới như sau: « Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao.