Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL tại các DNNVV. Trình bày khái niệm, cơ sở phân loại DNNVV, xác định các chỉ tiêu đo lường và các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL tại các DNNVV.
Đồng thời, lược khảo tài liệu nghiên cứu trước đây có liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Chương 3: Mô hình, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Trình bày quy trình nghiên cứu; mô hình nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; dữ liệu và cở mẫu nghiên cứu; mô tả và giải thích các biến nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này giới thiệu tổng quan về DNNVV tỉnh Kiên Giang. Trình bày thực trạng TSSL tại các DNNVV tỉnh Kiên Giang. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL tại các DNNVV tỉnh Kiên Giang và đồng thời thảo luận kết quả nghiên cứu định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL tại các DNNVV tỉnh Kiên Giang. Chương 5: Kết luận và giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các DNNVV tỉnh Kiên Giang.
Đồng thời đề xuất các giải pháp hỗ trợ các DNNVV, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Khái niệm DNNVV là những DN có quy mô nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu.
Căn cứ vào quy mô hoạt động DNNVV có thể chia thành ba loại đó là DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Mỗi quốc gia có tiêu chí riêng để xác định DNNVV khác nhau. Ví dụ như ở Đức, DNNVV được định nghĩa là những DN có số lao động dưới 500 người, ở Bỉ là 100 người. Đến nay Liên minh Châu Âu (EU) đã có khái niệm về DNNVV chuẩn hóa hơn như DN có dưới 50 lao động được gọi là DN nhỏ, DN có trên 250 lao động được gọi là DN vừa.
Ngược lại, ở Hoa Kỳ, những DN có số lao động dưới 100 người được gọi là DN nhỏ, dưới 500 người là DN vừa. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV được định nghĩa DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Phân loại DNNVV cũng dựa trên độ lớn hay quy mô của DN và phụ thuộc vào nhiều tiêu thức. Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) các DN được chia theo quy mô sau: (1) DN siêu nhỏ: là DN có không quá 10 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 100.000 USD, tổng doanh thu hàng năm không quá 100.000 USD; (2) DN nhỏ: là DN có không quá 50 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 3.000 USD, tổng doanh thu hàng năm không quá 3.000 USD; 123doc 6 (3) DN vừa: là DN có không quá 300 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 15.000 USD, tổng doanh thu hàng năm không quá 15.
Mỗi quốc gia thường có tiêu chí riêng để xác định DNNVV cho phù hợp với nước mình. Ví vụ như ở Mỹ, Úc, Đức, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore và Malaysia DNNVV được xác định dựa trên các tiêu chí như bảng 2.1: Tiêu chí xác định DNNVV ở một số nước trên thế giới Phân Tổng số vốn Quốc gia loại Số lao động hoặc giá trị tài Doanh thu /năm DNNVV sản DN nhỏ 1-99 người Úc Không quy định Không quy định DN vừa 100- 499 người DN nhỏ < 49 người Dưới 1 triệu mác Đức Không quy định DN vừa < 499 người 1-100 tr mác DN nhỏ 5-19 người Indonesia 70 triệu Rupi Không quy định DN vừa 20-29 người <100 người:bán buôn <30 triệu Yên Nhật Bản DNNVV <50 người : bán lẻ <10 triệu Yên Không quy định <300 người: chế tạo <100 triệu Yên Singapore DNNVV Không quy định <10 triệu $ Không quy định Thái Lan DNNVV <50 người <20 triệu Baht Không quy định Malaysia DNNVV <250 người <1 triệu Ringis Không quy định <80.000$/bán buôn Mỹ DNNVV < 500 người/chế tạo Không quy định <1triệu$/nông nghiệp (Nguồn: Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý, 2009) Ở Việt Nam, các DNNVV được phân loại dựa theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP Bảng 2.2: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Tổng Số lao Tổng Số lao động Số lao động Lĩnh vực nguồn vốn động nguồn vốn (người) (người) (tỷ đồng) (người) (tỷ đồng) Nông, lâm, Trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 ≤ 10 ≤ 20 thủy sản đến 200 đến 100 đến 300 Công nghiệp Trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 ≤ 10 ≤ 20 và xây dựng đến 200 đến 100 đến 300 Thương mại và Trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 ≤ 10 ≤ 10 dịch vụ đến 50 đến 50 đến 100 (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ) 123doc 7 2. Tỷ suất sinh lợi tại doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Khái niệm Lợi nhuận là để đánh giá hiệu quả hoạt động của DN và một trong những tiêu chí quan trọng nhất.
Sau khi đã trừ tất cả các chi phí hoạt động của DN phần còn lại là lợi nhuận. Để tồn tại, ổn định và phát triển trong một môi trường năng động, các DN kinh doanh phải thay đổi bằng cách đi vào mở rộng quy mô hoạt động trên cơ sở thường xuyên và liên tục để tạo ra đủ lợi nhuận. Lợi nhuận là linh hồn của DN mà không có thì không thể tồn tại. Lợi nhuận có thể được coi như một tấm gương phản chiếu về hiệu suất hoạt động của các hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận là số tuyệt đối mà hầu hết các nhà đầu tư đều nhìn vào để đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, dựa trên báo cáo của kết quả hoạt động thông qua lợi nhuận của năm trước, định hướng phát triển tương lai và là cơ hội cho các dự án đầu tư mới. Tuy nhiên, có thể sẽ không phản ánh đúng mức độ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận tuyệt đối không chỉ chịu sự tác động bởi quy mô kinh doanh mà còn chịu tác động của bản thân chất lượng kinh doanh. Ví dụ, chắc hẳn lợi nhuận DN lớn phải nhiều hơn khi so sánh hiệu quả hoạt động dựa trên lợi nhuận của một DN nhỏ mới ra đời với một DN lớn có mạng lưới kinh doanh rộng. Chính vì thế, cần phải sử dụng các TSSL để đánh giá đúng đắn kết quả kinh doanh.
TSSL là một tỷ số tài chính đo lường khả năng sinh lợi, liên quan đến lượng thu nhập đạt được với các nguồn lực sử dụng để tạo ra chúng, kết quả là một số tương đối, trong đó tử số là biến lợi nhuận và mẫu số là nguồn hình thành nên lợi nhuận. Có nhiều cách để xác định TSSL, tùy vào mối quan hệ của các chỉ tiêu có liên quan với lợi nhuận. Để phân tích TSSL nhiều nhà phân tích thường tập trung phân tích thông qua hai loại tỷ số: (i) TSSL trên tổng tài sản; (ii) TSSL trên vốn chủ sở hữu. Ý nghĩa TSSL: (1) Là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, xác định khả năng thành công của DN, thước đo này cho phép so sánh hiệu quả giữa các DN trong cùng ngành; (2) Đo lường khả năng sinh lợi cũng như sức mạnh tài chính của DN; (3) Đo lường tính hiệu quả của công tác quản trị.
123doc 8 Tỷ lệ này sử dụng kết hợp cả báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán, do đó có thể đánh giá TSSL dưới các góc độ khác nhau. Tất cả mọi DN đều rất quan tâm và không ngừng nâng cao TSSL của DN. Toàn bộ những cải tiến kỹ thuật, những đổi mới về biện pháp áp dụng trong quản lý DN, nội dung, phương pháp khi TSSL được tăng lên đều mới đem lại ý nghĩa. TSSL càng cao, DN càng có điều kiện đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị, tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tiên tiến hiện đại.
Các chỉ tiêu đo lường 2. Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (Return On Assets - ROA) TSSL trên tài sản đo lường việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của một DN. Hoạt động kinh doanh chủ yếu của DN là huy động vốn, đầu tư và sản xuất kinh doanh. TSSL trên tài sản nối kết các kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh với hoạt động đầu tư của một DN không kể đến việc DN đã dùng nguồn vốn nào để phục vụ cho các hoạt động đầu tư của mình.
Để việc sản xuất và bán hàng hóa cũng như dịch vụ cho khách hàng được xác định là thành công các DN sử dụng ROA để đo lường. Nếu các nhà quản lý sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối để đánh giá giữa hai DN thì sẽ không khách quan. Chưa chắc lợi nhuận nhiều là DN kinh doanh tốt vì còn phải phụ thuộc vào quy mô DN, quy mô lớn thì số tuyệt đối của lợi nhuận sẽ nhiều hơn. Do đó các nhà quản lý sẽ sử dụng tỷ số ROA để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản.
ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế của DN trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho tổng giá trị tài sản bình quân của DN trong cùng kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn của DN tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Công thức tính ROA: Lợi nhuận sau thuế ROA = x 100% (2.1) Tổng tài sản bình quân Nếu ROA lớn hơn 0, thì có nghĩa DN làm ăn có lãi. ROA càng cao cho thấy DN làm ăn càng hiệu quả.
Còn nếu ROA nhỏ hơn 0, thì DN làm ăn thua lỗ. Mức lãi 123doc 9 hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị tổng tài sản bình quân của DN. ROA cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của DN.