CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 Hoạt động tiền gửi 1.1 Khái niệm của hoạt động tiền gửi Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền (điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng 2004) Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. (khoản 13, điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng 2010) Hoạt động tiền gửi là một hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại sẽ nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức tín dụng khác thông qua việc mở các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản tiền gửi tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt hoặc hưởng lợi tức của khách hàng.2 Ý nghĩa, vai trò, vị trí của hoạt động tiền gửi (1) Ý nghĩa của hoạt động tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
4 Đối với người gửi tiền, ý nghĩa của hoạt động tiền gửi phụ thuộc vào mục đích sử dụng của người gửi tiền, có thể tập hợp thành hai trường hợp: Khách hàng gửi tiền mở tài khoản để hưởng các lợi ích của các phương tiện, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho họ. Tiền gửi ở đây là số tiền được khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng cho các nghiệp vụ trong tương lai hoặc do các nghiệp vụ phát sinh từ trước còn lại. Gửi tiền là một cách đơn giản, ít tốn kém chi phí để tìm kiếm cơ hội đầu tư có lãi với mức rủi ro ít. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất như các số tiền gửi vào sổ tiết kiệm hay các tài khoản định kỳ.
Khi đó khách hàng không còn quyền sử dụng một số dịch vụ của ngân hàng như dùng séc để thanh toán, chuyển tiền. Đối với ngân hàng, các loại tiền gửi tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đố i với ngâ n hàng thương m ại, có nhiều lo ại tiền gửi khác nhau, nhưng nó chú trọ ng nhiều hơn đến hai nguồn chủ yếu: tiền gửi của tổ chức và tiền gửi của dân cư. Hoạt động tiền gửi có ý nghĩa to lớn đối với ngân hàng thương mại.
Thông qua hoạt động này, ngân hàng có thể tập hợp các khoản tiền nhàn rỗi, phân tán tạm thời chưa sử dụng với các thời hạn khác nhau thành nguồn tiền lớn tài trợ cho nền kinh tế nói chung và các tổ chức, cá nhân nói riêng khi có nhu cầu sử dụng. Ngoài ra, hoạt động tiền gửi của ngân hàng cũng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. Trong một nền kinh tế đang phát triển, nếu dân chúng có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp thì sẽ góp phần giúp chính phủ quản lý được thu nhập của người dân. 5 (2) Vai trò của hoạt động tiền gửi: Thông qua việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, các khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp được ngân hàng cung ứng các dịch vụ về ngân quỹ một cách nhanh chóng và an toàn.
Bên cạnh đó, ngân hàng cũng thu hút được một số lượng tiền gửi của khách hàng và thu được một phần lệ phí nhất định. Đối với khách hàng là dân cư, cá nhân việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ngoài việc phục vụ cho nhu cầu thanh toán còn được ngân hàng cung ứng các dịch vụ khác như dịch vụ thông báo biến động số dư, chuyển khoản… Ngoài ra, khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đảm bảo sự an toàn cho vốn tích lũy của bản thân, thu được một khoản lợi nhuận nhất định, hạn chế rủi ro, tăng tính linh hoạt cho khả năng thanh toán. Đối với các ngân hàng thương mại, tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng. Hoạt động tiền gửi là hình thức huy động nguồn vốn chính tài trợ cho các khoản vay của ngân hàng.
Khả năng huy động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả quản lý và kinh doanh của ngân hàng. (3) Vị trí của hoạt động tiền gửi: Hoạt động tiền gửi là một trong những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. Nguồn tiền gửi huy động được giúp ngân hàng gia tăng nguồn vốn kinh doanh, mở rộng thị phần huy động, chủ động trong kinh doanh, gia tăng lợi nhuận, đảm bảo khả năng thanh toán và đáp ứng đầy đủ nhu cầu rút tiền của khách hàng. Hoạt động tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn vốn cũng như ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng thương mại.
Bởi vì, tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại.3 Các loại hình của hoạt động tiền gửi Theo Lý thuyết K eynes có 3 động cơ chính để mọi người gửi tiền đó là động cơ giao dịch, phòng ngừa và đầu tư. Do đó, ngân hàng thương mại phải cung cấp 3 loại hình tài khoản tiền gửi khác nhau để phục vụ cho các động cơ của khách hàng. Theo Nguyễn Minh Kiều (2006), khái niệm các loại hình tiền gửi này được diễn đạt như sau: (1) Tài khoản tiền gửi thanh toán (Tài khoản tiền gửi giao dịch ): Đây là tài khoản thanh toán do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại ngân hàng với mục đích gửi tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán. Tùy theo từng đối tượng khách hàng, tài khoản tiền gửi có thể mở theo các hình thức sau đây: - Tài khoản tiền gửi của tổ chức: là tài khoản mà chủ tài khoản là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của tổ chức mở tài khoản.
- Tài khoản tiền gửi của cá nhân: là tài khoản mà chủ tài khoản là một cá nhân độc lập đứng tên mở tài khoản. - Tài khoản tiền gửi của các đồng chủ tài khoản: là tài khoản có ít nhất hai người trở lên cùng đứng tên mở tài khoản. Đồng chủ tài khoản có thể là cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp của tổ chức. Tiền gửi thanh toán là hình thức gửi tiền được các tổ chức, cá nhân lựa chọn khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng.
Do mục đích của người gửi tiền không phải hưởng lợi tức mà để sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng, nên hình thức gửi tiền này được trả lãi thấp hơn các hình thức gửi tiền khác. Ngoài ra, đây là một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp để thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng. Tiền gửi thanh toán có đặc điểm là khách hàng có thể gửi tiền vào và rút tiền ra bất cứ lúc nào nên khi ngân hàng sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh 7 thì rủi ro rất cao. Do đó, ngân hàng phải duy trì dự trữ nhiều hơn so với các loại hình tiền gửi khác.
Đồng thời, ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ba được chỉ rõ là người thụ hưởng. (2) Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn : Đây là tài khoản tiền gửi của khách hàng tổ chức, doanh nghiệp được hưởng lãi và có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng với ngân hàng. Khách hàng gửi tiền được nhận lãi và gốc khi đáo hạn, nhưng không được ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. (3) Tài khoản tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên sổ tiền gửi tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản đứng tên một cá nhân hoặc một số cá nhân và được sử dụng để thực hiện các giao dịch gửi, rút tiền tiết kiệm và hưởng lãi từ số tiền gửi tiết kiệm. Đây là hình thức gửi tiền được lập ra để thu hút vốn của những khách hàng có nhu cầu dành riêng ra một khoản tiền cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. Do đó, chi phí trả lãi cao nhưng bù lại chi phí duy trì và quản lý đối với loại tài khoản tiền gửi này thấp.2 Các nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động tiền gửi 1.1 Những nhân tố vĩ mô Lãi suất huy động: Lãi suất huy động là lãi suất mà ngân hàng thương mại trả cho các khoản tiền gửi được các tổ chức, cá nhân gửi vào ngân hàng.
Ngoài ra, lãi suất huy động có thể hiểu là giá mà ngân hàng trả cho khách hàng để đổi lấy quyền sử dụng vốn của họ. 8 Lãi suất này có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào thời hạn gửi tiền, quy mô khoản tiền gửi của khách hàng và chính sách huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại. Chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ tiêu tương đối phản ánh sự biến động qua thời gian của giá tiêu dùng cho sinh hoạt đời sống cá nhân và gia đình. Để tính được mức độ biến động của giá tiêu dùng.
một danh mục các loại hàng hoá và dịch vụ phổ biến tiêu dùng của người dân đuợc chọn làm đại diện và được thu thập giá hàng tháng. Danh mục này được gọi là “rổ” hàng hoá trong chỉ số giá tiêu dùng.