Chương 1 đã nêu rõ lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu tổng quát, câu hỏi đặt ra, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục của bài để làm rõ mục tiêu xác định “Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tiền gửi của các NHTMCP tại Việt Nam”. Qua đó, chương 2 tác giả sẽ đưa ra các cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu có liên quan về những yếu tố mà bài hướng đến. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TIỀN GỬI VÀ TĂNG TRƢỞNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.
Khái niệm tiền gửi ngân hàng Theo Baye & Jansen (2002), TG ngân hàng là số tiền hoặc quỹ đưa vào tài khoản ngân hàng và do ngân hàng quản lý. TG ngân hàng là một khái niệm tổng quát chỉ đến số tiền mà cá nhân, tổ chức gửi hoặc đặt vào tài khoản hoặc một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính tương tự, bao gồm: tiền mặt, tiền gửi thông qua các hình thức tài khoản tiền gửi, tiết kiệm, hoặc các sản phẩm tài chính khác mà ngân hàng cung cấp. Thông thường, TG ngân hàng có thể được phân loại dựa trên một số tiêu chí như thời hạn, mục đích và tính linh hoạt, nổi bật nhất sẽ là phân loại theo mục đích: Theo Trầm Thị Xuân Hương (2012), tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền gửi giao dịch (transaction deposit, demand deposit) hoặc tiền gửi thanh toán (payment deposit). Đây là hình thức tiền gửi mà khách hàng gửi vào NHTM với mục đích để được ngân hàng thanh toán và thu chi hộ theo yêu cầu của khách hàng.
Hình thức này đã xuất hiện từ rất lâu và gắn kết với NHTM thời sơ khai, xuất phát từ nhu cầu thanh toán, chuyển tiền và phát triển cho đến ngày nay. Đây là nguồn vốn tiềm năng có quy mô lớn và chi phí huy động vốn thấp nhất, gắn liền và liên quan đến hầu hết mọi hoạt động giao dịch của ngân hàng. Tiền gửi định kỳ (forward deposit, term deposit) hay còn gọi là tiền gửi có kỳ hạn là hình thức tiền gửi huy động các khoản tiền để dành tạm thời chưa sử dụng mà khi gửi vào khách hàng chỉ được rút ra theo một khoản thời gian nhất định. 8 Tiền gửi tiết kiệm (saving deposit, thrift deposit) là hình thức huy động vốn chủ yếu là khoản tiền để dành của các cá nhân, tổ chức được gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời và an toàn về tài sản.
Ngoài những hình thức tiền gửi nêu trên hiện nay các NHTM còn phát hành các giấy tờ có giá như: kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi. Đây là công cụ nợ do NHTM phát hành để huy động vốn trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nhất định theo nhu cầu kinh doanh của ngân hàng. Lãi suất của hình thức này phụ thuộc vào yêu cầu cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
Trong bài khóa luận, tác giả sử dụng định nghĩa cũng như các số liệu về tiền gửi ngân hàng theo nghĩa hẹp là tiền gửi tiết kiệm (saving deposit, thrift deposit) phân loại theo thời hạn gửi tiền bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (Thời hạn gửi tiền cụ thể và các tiêu chí khác do tổ chức tín dụng xác định). Phân loại các loại tiền gửi Chứng chỉ Tiền gửi Tiền gửi tiết tiền gửi, kỳ Tiền gửi có kỳ hạn không kỳ kiệm phiếu, tín hạn phiếu Tổ chức và cá Tổ chức Tổ chức và cá Đối tƣợng Tổ chức và cá nhân nhân và cá nhân nhân Dùng tiền trong tài Trực tiếp tại Gửi tiền Gửi trực tiếp khoản thanh toán để ngân hàng Hình thức vào tài tại quầy giao gửi tiền online qua hoặc qua đại gửi khoản dịch những kênh ngân hàng lý hoặc đấu thanh toán điện tử như bankplus, thầu 9 Internet Banking, Mobile banking… Chứng chỉ Sổ tiết kiệm xác nhận Tài khoản hoặc thẻ tiết Tài khoản tiết kiệm Giấy tờ có giá quyền sở thanh toán kiệm hữu Chứng minh Chứng minh Không cần thủ tục vì Không cần Thủ tục thư hoặc thư hoặc gửi online thủ tục CCCD CCCD Qua tài khoản Hình thức Tại địa điểm Qua tài khoản thanh thanh toán Tại quầy giao trả lãi và giao dịch của toán của chính khách của chính dịch gốc ngân hàng hàng khách hàng Tiền gửi tiết Tiền gửi trả lãi đầu kỳ, Giấy tờ có giá kiệm không kỳ định kỳ hoặc cuối kỳ Không vô danh, giấy Phân loại hạn, tiền gửi tùy theo tên gọi của phân loại tờ có giá định tiết kiệm có kỳ từng sản phẩm mỗi danh hạn ngân hàng Cao hơn lãi 0,5% – 3%-9% tùy suất tiền gửi Cao hơn lãi suất tiền 3% tùy theo kỳ hạn tiết kiệm Lãi suất gửi tiết kiệm khoản thuộc vào gửi và số tiền khoảng 0,5- 0,1%-0,5% từng ngân gửi 1%, tùy từng hàng ngân hàng Số tiền gửi 500.000 hoặc tối thiểu 1.000 VNĐ hoặc VNĐ 10 mệnh giá Phƣơng Đầu kỳ, định Đầu kỳ, định kỳ, cuối Đầu kỳ, định thức trả Cuối kỳ kỳ, cuối kỳ kỳ kỳ, cuối kỳ lãi 6 tháng, 12 1 tháng – 36 1 tuần – 3 tuần và 1 Hàng tháng, 24 Kỳ hạn tháng, 5 năm, tháng -36 tháng tháng tháng, 36 10 năm tháng… Tự động hoặc tất toán Tất toán Tự động Không thực Tự động vào tài khoản thanh vào tài tái tục hiện tái ký gửi toán thanh toán Nguồn: Tác giả tổng hợp 2. Khái niệm tăng trƣởng tiền gửi Tăng trưởng TG là mức độ mở rộng về quy mô TG huy động được từ phía khách hàng đối với ngân hàng qua các năm, cho thấy nguồn TG biến đổi theo xu hướng như thế nào và khả năng kiểm soát của ngân hàng đến nguồn tiền gửi huy động. Điều đó ảnh hưởng tới khả năng tăng cường và mở rộng thị trường hoạt động của ngân hàng.Tăng trưởng tiền gửi được tính bằng: Công thức: 𝚺(𝐓𝐢ề𝐧 𝐠ử𝐢 𝐜ủ𝐚 𝐤𝐡á𝐜𝐡 𝐡à𝐧𝐠)𝐭 − 𝚺(𝐓𝐢ề𝐧 𝐠ử𝐢 𝐜ủ𝐚 𝐤𝐡á𝐜𝐡 𝐡à𝐧𝐠)𝐭 − 𝟏 𝐃𝐆 = 𝚺(𝐓𝐢ề𝐧 𝐠ử𝐢 𝐜ủ𝐚 𝐤𝐡á𝐜𝐡 𝐡à𝐧𝐠)𝐭 − 𝟏 Việc tăng trưởng TG có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh doanh của các NHTM như: cung cấp nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh, cung cấp nhiều khoản vay giúp tăng doanh thu và lợi nhuận, đảm bảo ổn định tài chính,.
Mặc dù trên thực tế, các NHTM đang tập trung nhiều nỗ lực hơn vào các hoạt động kinh doanh khác nhưng về mặt lý thuyết họ vẫn phụ thuộc vào tiền gửi 11 như một nguồn vốn, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Theo thuyết tiền tệ Keynes, hay còn gọi là lí thuyết về sự ưa thích tiền mặt, 3 lí do khiến người ta thích giữ tiền đó là: do động cơ giao dịch, động cơ dự phòng, động cơ đầu cơ. Hiểu rõ điều này, các ngân hàng thương mại đã cung cấp các loại tiền gửi khác nhau như tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC: Các nghiên cứu ngoài nƣớc: Nghiên cứu Terefe (2019) đã lựa chọn 6 ngân hàng thương mại có chủ đích.
Tập dữ liệu hội thảo cho nghiên cứu sử dụng bao gồm dữ liệu hàng năm kéo dài từ năm 2001 đến năm 2017 được thu thập từ Ngân hàng Quốc gia Ethiopia và báo cáo hàng năm của các ngân hàng thương mại, phương pháp xử lý dữ liệu OLS. Kết quả cho thấy chi nhánh ngân hàng, tỉ giá hối đoái, cho vay và ứng trước, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng cùng chiều đáng kể đến tăng trưởng tiền gửi của các NHTM. Tuy nhiên, lạm phát và cung tiền được phát hiện có ảnh hưởng ngược chiều đáng kể đến tăng trưởng tiền gửi ngân hàng. Tác động của quảng cáo là cùng chiều và không đáng kể.
Nghiên cứu Nahidul & Mohammed (2019) xem xét tác động của các biến số doanh nghiệp cụ thể và các biến số kinh tế vĩ mô đối với huy động tiền gửi của các ngân hàng thương mại tư nhân ở Bangladesh. 14 ngân hàng thương mại tư nhân thông thường đã được quan sát trong hơn mười năm (2007-2016) bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả cung cấp bằng chứng rằng tổng tiền gửi (được đo lường theo quy mô công ty) có ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng tiền gửi (được đo bằng tốc độ tăng tiền gửi ngân hàng) và tăng trưởng cung tiền trên diện rộng có ảnh hưởng cùng chiều đáng kể đến tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi ngân hàng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỉ lệ lạm phát (INF) không có tác động đáng kể đến tốc độ tăng trưởng tiền gửi ngân hàng của khối tư nhân các ngân hàng thương mại ở Bangladesh.
12 Nghiên cứu Sundin & Wan (2006) xác định yếu tố quyết định tiền gửi của các NHTM ở Malaysia. Số liệu được lấy từ bản thống kê hàng tháng của ngân hàng Negara Malaysia trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1990 đến tháng 12 năm 2003 với phương pháp xử lý dữ liệu VECM. Kết quả đã cho thấy rằng trong hầu hết các trường hợp, khách hàng hành xử phù hợp với các lý thuyết về hành vi tiết kiệm. Đồng thời các yếu tố như tỉ suất lợi nhuận của ngân hàng Hồi giáo, lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay cơ bản, chỉ số tổng hợp Kuala Lumpur, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền và tổng sản phẩm quốc nội là các yếu tố quyết định có ảnh hưởng đáng kể đến tiền gửi.
Trong đó, tỷ lệ lạm phát (INF) được cho là có mối quan hệ ngược chiều, cung tiền mở rộng có mối quan hệ cùng chiều với tiền gửi. Nghiên cứu Out & Peter (2022) xác định các yếu tố quyết định tiền gửi ngân hàng ở Ghana. Dữ liệu đã được sử dụng là chuỗi thời gian về tài chính (cấp ngân hàng) và các biến kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2000 đến 2013 với phương pháp xử lý dữ liệu FEM,REM. Kết quả đã chỉ ra những tác động của tăng trưởng cung tiền (M2) đối với tiền gửi.
Theo đó, trong dài hạn của việc tăng cung tiền đối với tiền gửi ngân hàng đã vượt xa tác động ngược chiều trong ngắn hạn. Lý do có thể được hiểu rằng, trong dài hạn tăng trưởng cung tiền cũng có thể ảnh hưởng cùng chiều đến tiền gửi ngân hàng vì nó cung cấp thêm tiền để các ngân hàng cho vay. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, tăng trưởng cung tiền có thể ảnh hưởng ngược chiều đến tiền gửi ngân hàng bởi vì nó làm giảm giá trị của tiền gửi do lạm phát tăng.