Chương 1 của nghiên cứu đề ra được tính cấp thiết của đề tài, trình bày tóm lược mục tiêu, đối tượng, phạm vi, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ AN TOÀN VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng thương mại 2. Tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) của các NHTM là một thước đo độ an toàn vốn dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng.
Tỷ lệ an toàn vốn được các nhà quản trị ngân hàng cũng như các nhà đầu tư dùng để đánh giá mức độ rủi ro của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Các ngân hàng bắt buộc phải đảm bảo một tỷ lệ an toàn vốn nhất định theo quy định của từng quốc gia nơi ngân hàng có trụ sở. Việc tuân theo quy định về an toàn vốn giúp Nhà nước có thể quản lý được sự ổn định của ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Bên cạnh đó, việc tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn giúp nhà quản trị ngân hàng có những hướng đi vững chắc trong sự phát triển ngân hàng đồng thời nhà đầu tư cảm thấy an tâm đối với các khoản tiền gửi của mình.
Ngân hàng trung ương sẽ quy định một tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với các ngân hàng thương mại trên cở sở ban hành các quy định pháp luật nhằm đảm bảo hoạt động của hệ thống tài chính trơn tru, hiệu quả. Qua đó, ngân hàng thương mại cũng có đủ tiềm lực để chống lại các cú sốc về tài chính, tạo sự yên tâm cho người dân vào chính ngân hàng của mình cũng như toàn hệ thống ngân hàng. Với vai trò là trung gian tài chính của nền kinh tế, sự ổn định của hệ thống ngân hàng mang một ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Do vậy, việc đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định càng trở nên quan trọng.
Irum và cộng sự (2018) đi trả lời cho câu hỏi tỷ lệ an toàn vốn có bảo vệ các ngân hàng khỏi đòn bẩy quá mức, mất khả năng thanh toán và cũng giữ cho họ an toàn trước mọi tình huống không? Nghiên cứu cho rằng với một lượng dự trữ vốn được 8 đảm bảo một cách hợp lý, các ngân hàng có đủ vốn để phát triển kinh doanh, nhưng đồng thời có đủ để hấp thụ bất kỳ sự sụt giảm tài chính nào mà không bị vỡ nợ. Tỷ lệ này quyết định khả năng đáp ứng các khoản nợ và khả năng trả nợ của ngân hàng, bao gồm tất cả các rủi ro như rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường,. Tại Việt Nam, tỷ lệ an toàn vốn thường được nhắc đến trong các báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại. Theo đó, chỉ tiêu tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng đảm bảo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thể hiện sự ổn định và phát triển bền vững song song với việc tăng trưởng tín dụng an toàn, kiểm soát chất lượng tín dụng chặt chẽ.
Thời gian vừa qua, hệ thống ngân hàng phát triển ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh. Hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên đa dạng về hình thức và phát triển về quy mô kéo theo đó là những tiềm ẩn về rủi ro và nguy cơ tác động đến sự phát triển lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại. Điều này càng làm cho tầm quan trọng của tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo tiêu chuẩn Basel càng được thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết và cần được các nhà quản lý quan tâm nhiều hơn. Theo Võ Hồng Đức và cộng sự (2010) thì ngoài mục đích sử dụng để nhận biết mức độ rủi ro của từng ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn còn được sử dụng nhằm mục đích giúp các khách hàng hiểu được mức độ tin cậy của ngân hàng.
Ngoài ra đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cũng nhằm mục đích tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống NHTM. Với tỷ lệ an toàn vốn này, nhà đầu tư có thể xác định được khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện thanh toán các khoản nợ có thời hạn và các rủi ro. Trần Thị Lan Anh (2018), một ngân hàng hoạt động kém hiệu quả có thể ảnh hưởng đến sự sụp đổ của các ngân hàng khác và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Có thể giải thích điều này do hiện tượng lan truyền nếu có một ngân hàng bị phá sản thì sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tổng thể.
Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước luôn có những quy định về tỷ lệ an toàn vốn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại, thể hiện ở bảng 2. Các văn bản pháp luật quy định về Tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam qua các thời kỳ Năm ban Năm Văn bản pháp luật Quy định về CAR hành thực hiện - CAR được tính bằng Vốn tự có trên Tài sản có - Vốn tự có gồm vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Quyết định số 27/8/1999 9/9/1999 - Tài sản có gồm tài sản có rủi ro nội bảng và tài 297/QĐ-NHNN5 sản có rủi ro nội bảng - CAR ≥ 8% - Hệ số rủi ro từ 0% - 100% - CAR được tính bằng Vốn tự có trên Tài sản có Quyết định số - Vốn tự có gồm vốn cấp 1 cộng với vốn cấp 2 457/2005/QĐ- 19/4/2005 6/5/2005 và trừ các khoản giảm trừ NHNN - CAR ≥ 8% - Hệ số rủi ro từ 0%; 20%; 50%; 100% Thông tư số - CAR ≥ 9% 20/5/2010 1/10/2010 13/2010/TT-NHNN - Hệ số rủi ro từ 0%; 20%; 50%; 100% và 250% - CAR ≥ 9% Thông tư số - Hệ số rủi ro từ 0%; 20%; 50%; 100% và 150% 20/11/2014 1/2/2015 36/2014/TT-NHNN - Vẫn chưa tính tới rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động trong tổng tài sản có rủi ro Thông tư số 06/2016/TT-NHNN - CAR ≥ 9% Sửa đổi một số điều 27/5/2016 1/7/2016 - Hệ số rủi ro từ 0%; 20%; 50%; 100% và của TT 200% 36/2014/TT-NHNN - CAR ≥ 8% - CAR được tính bằng vốn tự có trên tổng tài sản Thông tư số 30/12/2016 1/1/2020 có rủi ro 41/2016/TT-NHNN - CAR tính tới cả rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường Nguồn: Trần Thị Lan Anh (2018) 10 2. Đo lường tỷ lệ an toàn vốn Năm 1974, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) được thành lập nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Mặc dù vậy, mãi đến năm 1988, Uỷ ban Basel mới giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà thường được đề cập là hiệp ước Basel 1.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu 8%. Basel 1 không chỉ được phổ biến và bắt buộc áp dụng trong các nước thành viên của G10 mà còn được rất nhiều nước khác trên thế giới tự nguyện tham gia. Nội dung cốt lõi của Basel 1 là yêu cầu các ngân hàng phải có tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (RWA) ở mức an toàn là 8%. Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt nhất là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.
Bên cạnh những lợi ích về việc đảm bảo an toàn vốn cho các ngân hàng thương mại, Basel 1 tồn tại những hạn chế nhất định. Đó là khi công thức tính toán tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng chỉ quan tâm đến vào tài sản bảo đảm và nhóm khác hàng chứ không đề cập đến hệ số tín nhiệm khách hàng hoặc quy mô, thời hạn khoản vay. Đồng thời Basel 1 còn bỏ qua rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng. Vì thế, Ủy Ban Basel đã giới thiệu Basel 2 vào năm 2004, có hiệu lực áp dụng từ năm 2007.
Nội dung cốt lõi của Basel 2 gồm: (i) Trụ cột thứ nhất - Các yêu cầu về vốn tối thiểu; (ii) Trụ cột thứ hai - Quy trình kiểm tra kiểm soát của cơ quan chủ quản; và (iii) Trụ cột thứ ba – Nguyên tắc thị trường. Trong đó, trụ cột thứ nhất vẫn quy định hệ số an toàn vốn CAR tối thiểu 8%. Vốn tự có vẫn bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Trong khi đó, thay đổi đáng kể nhất so với Basel 1 nằm ở mẫu số phụ thuộc thêm vào độ nhạy rủi ro của khoản vay và mức độ tín nhiệm của khách hàng vay bên cạnh tài sản bảo đảm và nhóm khách hàng.
Hệ số rủi ro của các khoản dư nợ dao động trong khoảng từ 0% - 150% theo Basel 2 thay vì từ 0% - 100% như Basel 1. Ngoài ra, mẫu số còn bao gồm 12,5 lần tổng vốn quy định cho dự phòng rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. 11 Ngày 12/09/2010, Ủy ban Basel đã chính thức công bố bộ tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu áp dụng cho các ngân hàng thương mại. Bộ tiêu chuẩn này bắt đầu có hiệu lực từ năm 2013 và được thực thi đầy đủ vào ngày 01/01/2019.
Đây được xem là phiên bản đầy đủ nhất về những yêu cầu của BCBS đối với tỷ lệ an toàn vốn. Những cải tiến của Basel 3 đó là: Thứ nhất, nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% lên 4,5%. Thứ hai, nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6%. Thứ ba, tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu phổ thông (common equity).
Phần vốn dự phòng này chỉ đòi hỏi trong trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín dụng một cách có hệ thống. Việc áp dụng Basel về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế nhất định.