CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA NANG LỰC CẠNH TRANH CUA NGÂN HANG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, vấn đề nâng cao năng lựa cạnh tranh của ngân hàng thương mại đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập. Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, khả năng phát triển nguồn nhân lực, khả năng quản lí và cơ cấu tổ chức nhưng quan trọng hơn cả là năng lực hoạt động đặc biệt là đa dạng hóa sản phẩm; đồng thời dựa trên tình hình thực tế và đối thủ cạnh tranh để đưa ra những kiến nghị khoa học các định hướng và giải pháp đối với van dé này. Nhiều nội dung đã khăng định về lý thuyết khoa học mang tính tông quan giải quyết những vấn đề ở tầm vĩ mô, đặc biệt đối với phát triển năng lực hoạt động và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, đồng thời cũng cho thấy những vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh ngành ngân hàng có tính đặc thù , còn nhiều khoảng trống cần lý giải kịp thời. Các công trình cũng đã đề cập và lý giải những vấn đề về nâng cao năng lực cạnh tranh trong các ngân hang thương mai đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế và đồi mới sâu rộng của nền kinh tế trong nước.
Các công trình cũng đã phần nào cập nhật kiến thức hiện đại, tiếp thu các phương pháp kinh tế và quản lý tiên tiến. Các công trình nghiên cứu dưới dạng các báo cáo khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí Có khá nhiều báo cáo khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến những vấn đề liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. - Bài viết “ Cơ sở lý thuyết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trước cơ hội thách thức gia nhập WTO” của Ths. Lê Chí Hòa đăng trên Management of business association ngày 4/8/2008 trình bày một cách chỉ tiết và thực tế những vấn đề của cạnh tranh về lý thuyết cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh.là cơ sở tham khảo dé tôi hoàn thiện dé tài này.
- Bài viết của Đặng Hữu Mẫn, trường đại học kinh tế, đại học Da Nẵng đăng trên tạp chí Khoa học va công nghệ, đại học Da Nẵng số 5(40)-2010: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Nội dung chủ yếu nhằm mục tiêu đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam dựa trên việc phân tích các yếu tố cạnh tranh, như: năng lực tai chính, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, thị phần, hệ thống kênh phân phối, phát triển sản phẩm mới và công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu. Từ đó, bài viết trình bày một số kiến nghị và đề xuất nhăm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM nội địa trong bối cảnh Việt Nam bat đầu thực hiện các cam kết đối với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân hàng. - Bài viết so sánh thực trạng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam về năng lực tài chính, năng lực thị phần, năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh về khoa học công nghệ, năng lực cạnh tranh về hệ thống kênh phân phối, năng lực cạnh tranh về mở rộng và phát triển dịch vụ, năng lực cạnh tranh về thương hiệu qua đó có những cái nhìn tổng quan đối với các ngân hàng và là cơ sở so sánh với các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng thương mại từ đó tác giả đưa ra các giải pháp và kiến nghị.
Trong đó tác giả có đề xuất đến giải pháp mua lại và sáp nhập (M&As) đây là vấn đề đang tốn nhiều giấy mực của các chuyên gia hiện nay. Bên cạnh đó tác giả còn kiến nghị ngân hàng nhà nước nên xem xét lại Thông tư số 13/2010/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 20/5/2010, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2010 bởi vì một vài điều trong Thông tư này là khá bất cập, và do đó có thể làm giảm năng lực cạnh tranh (xét về phương diện vốn) của các NHTM. Chang hạn, Thông tư 13 quy định, nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội và các tổ chức khác. Quy định này là không hợp lý, vì tiền gửi không kỳ hạn của những đối tượng trên thường chiếm tỷ lệ từ 15% - 20% trong tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tin dụng.
Điều nay sẽ làm cho phần nguồn vốn dé đảm bảo khả năng thanh toán có thể lên đến 35% trên tổng nguồn vốn huy động, và vì thế tỷ lệ này là quá cao, cản trở mạnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM; từ đó làm giảm năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Đây là điểm cũng đáng được lưu ý. - Bài viết “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Sai Gòn — Hà Nội sau khi chuyên đổi từ ngân hàng nông thôn lên đô thị” của tác gia Nguyễn Thị Hồng Ngọc đăng trên website: http://www.org/view_news. ngày 6/4/2009 trong đó tác giả trình bày ma trận Swot đối với ngân hàng nông thôn lên đô thị, bên cạnh đó rút ra bai học kinh nghiệm cho ngân hang trong va ngoai nước.
Tác giả chỉ ra được rằng: từ những điểm giống nhau giữa các ngân hàng thương mại nên đã tạo ra một làn sóng cạnh tranh ngày càng gay gắt. Ngân hàng nào cũng phải tạo ra nhiều dịch vụ sản phâm mới và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình dé một mặt gìn giữ khách hàng, mặt khác nâng cao sự chú ý về những tiện ích mới của sản phẩm và dịch vụ với mục đích thu hút thêm những khách hàng mới đến ủng hộ và giao dịch. Mục tiêu chính của đề tài nói nên sự cạnh tranh theo qui luật thị trường của ngành ngân hàng. - Bài viết: “ Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Thanh Phong đăng trên thông tin pháp luật dân sự ngày 10/4/2010 tác giả chỉ ra “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cô và mở rộng thị phan; gia tăng lợi nhuận và có kha năng chống đỡ và vượt qua những biến động bat lợi của môi trường kinh doanh”.
Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; .trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ được xem là những yếu tô quan trọng hang đầu quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM. Hiện nay, các NHTM rất quan tâm đến việc đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng dich vụ cung ứng cho khách hàng, nhưng van còn nhiều bat cập: Quy mô vốn của NHTM nhỏ; chi phí đầu tư hiện đại hóa công nghệ cao; khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến của nhân viên ngân hàng còn hạn chế nên dẫn đến lãng phí, khai thác không hết tính năng của công nghệ mới. Điền hình là hệ thống giao dịch tự động — ATM, sau một thời gian triển khai thực hiện vẫn chưa hết những bat cập, chưa có sự kết nối trong toàn hệ thống ngân hang dé có thê giảm chi phi đầu tư và đảm bảo hiệu quả giao dich cho khách hàng. Việc NHNN công bố chính thức kết nối hai liên minh thẻ lớn ở VN là Smartlink và Banknetvn, mở đường cho việc hình thành một mạng thanh toán điện tử thống nhất trên toàn quốc nhưng cũng chỉ mới dừng ở kết nối công nghệ nên việc cung ứng dịch vụ ngân hàng vẫn chưa đạt hiệu quả cao hơn.
Việc triển khai hệ thống Core banking tại các NHTMVN được xem là điểm nhấn cho đầu tư công nghệ, nhưng khi triển khai thực hiện thì vẫn chưa có sự đồng bộ trong toản hệ thống. Hiện nay đã có 44 NHTM trong nước triển khai Core banking, nhưng có quá nhiều phần mềm được sử dụng như : Siba; Bank 2000; SmartBank; Symbol System; Teminos; Iflex; Huyndai; Sylverlake; TCBS (the complex banking solution — giải pháp ngân hang phức hợp), quy mô dau tu lại khác nhau giữa các ngân hàng nên sự liên kết với nhau còn hạn chế. - Về giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại có bài viết: “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại” tác giả: PV Phan Quốc Thịnh đăng trên báo điện tử văn hóa doanh nhân. Tác giả chỉ ra có 3 nhóm giải pháp chủ yếu trong đó chú trọng việc xây dựng chiến lược cung cấp dich vụ tối ưu nhất cho khách hàng.
Bên cạnh đó, các Ngân hang cần quan tâm đặc biệt đến nguồn nhân lực, đây mạnh xây dựng thương hiệu, tạo lòng tin bền vững với khách hàng. Cụ thể, các ngân hàng cần tạo được “lối đi” cho dịch vụ khách hàng. Chất lượng và dịch vụ chính là những yếu tố không thể tách rời nhau. Các nhân viên cần phải xác định chiến lược dịch vụ khách hàng trên cơ sở toàn diện, chứ không phải là một mặt nào đó, nói một cách chính xác hơn, chiến lược dịch vụ khách hàng bao gồm tất cả mọi hoạt động của ngân hàng có thé ảnh hưởng tới khách hàng như: hình tượng, bán hàng, địa điểm, hiệu quả, thời gian biểu, tiêu chuẩn giá trị, việc ủng hộ khách hàng, kỹ năng quan hệ giữa nhân viên ngân hàng và khách hàng.
Nó bao gồm hệ thống các yếu tố: bán hàng, lưu trình nghiệp vụ, hợp tác tập thé, việc giao lưu, kết cấu của ngân hang, sự cạnh tranh và tri thức quan lý. Bên cạnh đó chuyên môn hóa giúp nâng cao sức cạnh tranh. Hiện nay, các ngân hang đã đầu tư hệ thống tương tác tự động: giúp khách hàng có thé tự phục vụ bang việc chọn các thư mục có sắn trong hệ thống để tìm kiếm thông tin, dịch vụ. Ngoài ra, hệ thống giám sát cảnh báo: cho phép giám sát hoạt động của toàn bộ hệ thống được đảm bảo tuyệt đối, tạo dựng lòng tin cho khách hàng.