Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam hiện có 60,8 triệu dân sinh sống, chiếm 67,7% tổng dân số cả nước và tạo ra lực lượng lao động nông thôn hùng hậu với 37,2 triệu người. Mặc dù quỹ đất sản xuất nông nghiệp đạt 26,37 triệu ha (chiếm 79,67% diện tích tự nhiên), nông thôn nước ta vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản phát triển nghiêm trọng. Tỷ lệ hộ nghèo tại khu vực nông thôn năm 2013 lên tới 12,7%, cao gấp 3,4 lần so với mức 3,7% tại khu vực thành thị. Đáng chú ý, năng suất lao động ngành nông - lâm - thủy sản chỉ đạt 27,3 triệu đồng/người/năm, thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân chung 68,7 triệu đồng/người của toàn nền kinh tế. Sự phụ thuộc nặng nề vào thời tiết, thiên tai và áp lực "được mùa mất giá" từ thị trường khiến thu nhập của nông hộ trở nên vô cùng bấp bênh. Trước thực tế đó, đa dạng hóa thu nhập thông qua phát triển các hoạt động phi nông nghiệp đã trở thành chiến lược sinh kế sống còn nhằm phân tán rủi ro và ổn định đời sống.

Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Đỗ Lê Thúy Vi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Trọng Hoài tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2014, tập trung nhận diện và lượng hóa các nhân tố quyết định đến mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình nông thôn. Nghiên cứu khai thác bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn (VARHS) năm 2012 trên địa bàn 12 tỉnh thành đại diện. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua minh chứng: các hộ thực hiện đa dạng hóa thu nhập đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người cao hơn 23% so với các hộ thuần nông. Việc làm rõ vai trò của các nguồn vốn sinh kế cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc giúp các nhà hoạch định tối ưu hóa chính sách an sinh, hỗ trợ đẩy nhanh quá trình giảm tỷ trọng hộ thuần nông từ 62,2% xuống các mức thấp hơn trong tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) chuẩn hóa từ các nghiên cứu nền tảng của Amartya Sen và Ellis, kết hợp cùng Lý thuyết hành vi đa dạng hóa thu nhập nông thôn của Barrett, Reardon và Webb. Khung lý thuyết SLF phân định 5 nguồn vốn sinh kế cốt lõi của nông hộ bao gồm: vốn con người (học vấn, quy mô lao động), vốn vật chất (phương tiện, hạ tầng đường sá), vốn tài chính (tiết kiệm, tiếp cận tín dụng), vốn xã hội (mạng lưới quan hệ, tổ chức đoàn thể) và vốn tự nhiên (diện tích đất đai).

Mô hình tích hợp đồng thời hai nhóm động lực chi phối quyết định sinh kế: nhân tố kéo (pull factors) phản ánh các cơ hội thị trường và hạ tầng thuận lợi, cùng nhân tố đẩy (push factors) bắt nguồn từ rủi ro thiên tai, biến động thu nhập và diện tích nhà ở chật hẹp. Ba khái niệm trung tâm được vận dụng gồm: Nền kinh tế phi nông nghiệp nông thôn (RNFE) với vai trò tạo việc làm tại chỗ; Chiến lược sinh kế (Livelihood Strategy) biểu thị sự phân bổ danh mục hoạt động; và Chỉ số Herfindahl nghịch đảo đóng vai trò đo lường mức độ đa dạng hóa các nguồn thu nhập. Nghiên cứu giả định rằng việc tích lũy các nguồn vốn sinh kế kết hợp cùng hạ tầng giao thông thuận lợi sẽ tạo lực đẩy giúp hộ nông thôn chuyển dịch thành công từ thế độc canh sang mô hình đa dạng hóa thu nhập bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn khai thác bộ dữ liệu Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) năm 2012 do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (IPSARD), Viện Khoa học Lao động Xã hội (ILSSA) và Đại học Copenhagen phối hợp thực hiện. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 3.542 hộ gia đình nông thôn được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 12 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng sinh thái: Hà Tây (cũ), Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Long An.

Về phương pháp phân tích, luận văn kết hợp thống kê mô tả cơ cấu 3 nhóm thu nhập (tiền lương, việc làm tự tạo, thu nhập phi lao động) và mô hình hồi quy Tobit (Tobit regression). Lý do lựa chọn mô hình Tobit thay cho OLS truyền thống là vì biến phụ thuộc chỉ số Herfindahl nghịch đảo mang đặc tính dữ liệu bị kiểm duyệt (censored) chặn dưới tại điểm giá trị 1 đối với các hộ chỉ phụ thuộc vào duy nhất một nguồn thu. Hồi quy Tobit giải quyết triệt để vấn đề biến phụ thuộc bị giới hạn, ngăn ngừa hiện tượng chệch tham số ước lượng. Toàn bộ quy trình ước lượng và kiểm định kinh tế lượng được hoàn thiện trong giai đoạn 2013 - 2014, đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Tobit trên 3.542 quan sát đã chỉ ra các phát hiện cốt lõi:

  • Vốn con người là động lực quan trọng nhất: Trình độ học vấn của chủ hộ và số lao động trong hộ tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Hộ có lao động đạt trình độ trung cấp hoặc đại học có chỉ số đa dạng hóa thu nhập cao hơn khoảng 18,4% so với hộ chỉ có lao động chưa qua đào tạo.
  • Vốn xã hội và yếu tố dân tộc tạo sự phân hóa rõ rệt: Hộ có thành viên tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam có mức độ đa dạng hóa thu nhập cao hơn 15,2% so với hộ không tham gia. Đồng thời, chủ hộ là người Kinh có mức độ đa dạng hóa cao hơn rõ rệt so với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nhờ mạng lưới liên kết xã hội và thị trường rộng mở.
  • Hạ tầng giao thông và tiếp cận thị trường là rào cản chi phối: Khoảng cách từ nhà đến đường nhựa và đến nơi tiêu thụ nông sản có hệ số tác động âm ở mức ý nghĩa 5%. Cứ mỗi kilomet cách xa trục đường giao thông chính, mức độ đa dạng hóa của hộ giảm bình quân 4,2%.
  • Vốn tài chính và điều kiện sống đóng vai trò nền tảng: Quy mô tài khoản tiền gửi tiết kiệm tác động tích cực đến khả năng mở rộng kinh doanh phi nông nghiệp, trong khi các biến số về mức độ thiệt hại do cú sốc thiên tai, số lượng xe máy, điện thoại và mức tiếp cận tín dụng chính thức chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm phản ánh chân thực thực trạng chuyển dịch sinh kế tại nông thôn Việt Nam. Vốn con người nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ và thông tin, giúp người lao động chủ động tham gia thị trường việc làm phi nông nghiệp có giá trị gia tăng cao. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Sarah tại Senegal, Kenya và nghiên cứu của Schwarze cùng Zeller tại Indonesia khi đều khẳng định giáo dục là nhân tố then chốt giúp thoát ly thuần nông.

Mối tương quan nghịch giữa khoảng cách giao thông và mức độ đa dạng hóa làm nổi bật hạn chế về hạ tầng, khi vẫn còn 40,4% xã miền núi có đường ngõ xóm chưa được cứng hóa, làm tăng chi phí lưu thông hàng hóa. Toàn bộ các kết quả định lượng này có thể được trình bày trực quan thông qua bảng ma trận hệ số hồi quy Tobit phân nhóm theo 5 nguồn vốn và biểu đồ phân phối mật độ của chỉ số Herfindahl nghịch đảo tại 12 tỉnh thành. Nghiên cứu chứng minh rằng đa dạng hóa thu nhập tại nông thôn Việt Nam chịu sự dẫn dắt chủ đạo bởi các nhân tố kéo (cơ hội việc làm, học vấn, tích lũy vốn) hơn là các phản ứng thụ động trước rủi ro ngắn hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng từ mô hình nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm khuyến nghị chính sách đồng bộ nhằm thúc đẩy đa dạng hóa sinh kế cho nông hộ:

  • Nâng cấp hạ tầng giao thông và mạng lưới thương mại nông thôn: Bộ Giao thông Vận tải phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các địa phương ưu tiên nguồn vốn nâng tỷ lệ đường trục thôn được nhựa hóa hoặc bê tông hóa từ mức 67,7% lên 85% giai đoạn 2015 - 2020. Ngành công thương cần đẩy mạnh nâng cấp chợ nông thôn, phấn đấu nâng tỷ lệ chợ đạt chuẩn từ 3,5% lên 20% nhằm rút ngắn bán kính tiếp cận nơi tiêu thụ sản phẩm xuống dưới 3 km cho hơn 90% số hộ.
  • Đổi mới và mở rộng đào tạo nghề phi nông nghiệp: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các trung tâm giáo dục nghề nghiệp địa phương nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo từ 11,2% lên 25% trong vòng 5 năm. Trọng tâm đào tạo cần chuyển dịch sang các ngành chế biến nông - lâm - thủy sản, dịch vụ kỹ thuật cơ khí và kỹ năng quản trị kinh doanh hộ gia đình.
  • Phát triển hệ thống tài chính vi mô và kích thích tiết kiệm dân cư: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội mở rộng phòng giao dịch tại các xã vùng sâu, vùng xa (nơi tỷ lệ hiện diện ngân hàng thương mại mới chỉ đạt 7%), thiết kế các gói sản phẩm tiền gửi linh hoạt nhằm nâng tỷ lệ hộ nông thôn có tài khoản tiết kiệm chính thức thêm 25% trước năm 2020.
  • Nâng cao vốn xã hội và hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số: Hội Nông dân và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới tại 100% các xã khó khăn trước năm 2022, tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông - khuyến công nhằm kết nối mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, xóa bỏ khoảng cách chênh lệch sinh kế giữa các nhóm dân tộc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng chính quyền các cấp có thể sử dụng các chỉ số định lượng từ mẫu khảo sát 3.542 hộ để xây dựng tiêu chí Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới, hướng tới mục tiêu hạ tỷ lệ hộ nghèo nông thôn từ 12,7% xuống dưới 5%.
  • Tổ chức phát triển quốc tế và định chế tài chính vi mô: Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và các quỹ tín dụng có thể vận dụng khung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế để thiết kế các dự án tài trợ phát triển kinh tế hộ và sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giới học thuật chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Kinh tế Nông nghiệp có thể tham khảo phương pháp xử lý dữ liệu kiểm duyệt bằng mô hình Tobit và kỹ thuật đo lường đa dạng hóa qua chỉ số Herfindahl nghịch đảo để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  • Ban quản trị hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp: Các doanh nghiệp bao tiêu nông sản có thể phân tích xu hướng dịch chuyển ngành nghề của 37,2 triệu lao động nông thôn để xây dựng chuỗi cung ứng nguyên liệu và liên kết sản xuất hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  • Đa dạng hóa thu nhập hộ nông thôn khác gì so với đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi? Đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi chỉ diễn ra trong nội bộ ngành nông nghiệp, trong khi đa dạng hóa thu nhập mở rộng sang cả 3 thành phần: tiền công tiền lương, việc làm phi nông nghiệp tự tạo và thu nhập phi lao động. Nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ đa dạng hóa nguồn thu có mức tiêu dùng bình quân cao hơn 23% so với hộ thuần nông.

  • Tại sao luận văn sử dụng chỉ số Herfindahl nghịch đảo để đo lường mức độ đa dạng hóa? Chỉ số Herfindahl nghịch đảo có ưu điểm vượt trội khi tính toán đồng thời cả số lượng và tỷ trọng phân bổ của từng nguồn thu nhập, có biên độ biến thiên rộng và phản ánh chính xác sự ổn định tài chính. Chỉ số này giúp mô hình Tobit đo lường chuẩn xác mức độ phân tán sinh kế của 3.542 hộ khảo sát.

  • Vì sao yếu tố giới tính chủ hộ không có ý nghĩa thống kê trong mô hình? Kết quả kiểm định kinh tế lượng cho thấy trong bối cảnh kinh tế hộ gia đình nông thôn hiện nay, cả nam và nữ đều tham gia bình đẳng vào các hoạt động sinh kế. Năng lực đa dạng hóa phụ thuộc vào quy mô tổng số 36,7 triệu lao động đang làm việc của toàn hộ chứ không bị chi phối bởi giới tính của chủ hộ.

  • Khoảng cách hạ tầng giao thông ảnh hưởng đến sinh kế nông hộ như thế nào? Khoảng cách địa lý làm gia tăng chi phí vận chuyển và cô lập thông tin thị trường. Cứ cách xa đường nhựa 1 km, chỉ số đa dạng hóa của hộ giảm 4,2%. Tại 40,4% xã miền núi có đường ngõ xóm chưa cứng hóa, người dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp.

  • Vốn xã hội thúc đẩy hộ nông dân đa dạng hóa nguồn thu qua những kênh nào? Việc tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc các tổ chức đoàn thể giúp hộ gia đình nâng cao 15,2% mức độ đa dạng hóa nhờ tiếp cận sớm các thông tin thị trường, chính sách hỗ trợ sản xuất, kỹ thuật mới và nguồn vốn ưu đãi từ các mạng lưới liên kết cộng đồng.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa toàn diện các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập của 3.542 hộ gia đình nông thôn tại 12 tỉnh thành Việt Nam.
  • Khẳng định vai trò quyết định của vốn con người (học vấn), vốn xã hội (đoàn thể) và hạ tầng giao thông đối với việc mở rộng sinh kế.
  • Minh chứng đa dạng hóa thu nhập là chiến lược hiệu quả giúp hộ nông dân gia tăng 23% mức tiêu dùng bình quân so với hộ thuần nông.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp các nhà quản lý thực hiện mục tiêu giảm tỷ trọng hộ thuần nông từ 62,2% xuống mức thấp hơn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi về giao thông, đào tạo nghề, tài chính vi mô và phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015 - 2020.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là việc vận dụng thành công mô hình hồi quy Tobit trên bộ dữ liệu vi mô VARHS 2012, làm rõ các rào cản tài sản sinh kế của hộ nông dân. Định hướng tiếp theo trong giai đoạn 2015 - 2025 là mở rộng phân tích dữ liệu bảng (panel data) để theo dõi động thái sinh kế dài hạn. Các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu hãy tham khảo ngay luận văn này để ứng dụng vào chiến lược phát triển kinh tế nông thôn bền vững.