Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại. Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay của khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Một số khái niệm 1. Ngân hàng thương mại Ngày nay, với sự phát triển chóng mặt của nền kinh tế thế giới, hệ thống NHTM ngày càng đóng vai trò quan trọng. Mạng lưới NHTM không chỉ nằm trong lãnh thổ nội địa, mà còn mở rộng ra khu vực và quốc tế, phục vụ nhu cầu xuất nhập khẩu và giao thương giữa các nước.
NHTM là thành phần không thể thiếu trong mọi hoạt động kinh doanh của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, “hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Theo khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 07/VBHN-VPQH ban hành ngày 12/12/2017 (Luật các tổ chức tín dụng năm 2017) thì ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM đóng vai trò là một trung gian tài chính, làm nhiệm vụ điều phối lại nguồn vốn trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm và đầu tư của xã hội. Với sự tham gia của NHTM, nền kinh tế trở nên sôi động hơn, tiết kiệm được thời gian và chi phí, kích thích tăng trưởng và đầu tư. 6 Xét trên phương diện là một tổ chức pháp nhân, NHTM cũng hoạt động như một doanh nghiệp và chịu sự điều chỉnh của các Bộ luật ngoài ngành như Luật Dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư.,…và bao gồm nhiều loại hình khác nhau phù hợp với nhu cầu đa dạng của xã hội. Căn cứ vào hình thức sở hữu có thể chia NHTM thành các loại hình như sau: Ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
Cùng với quá trình mở cửa hội nhập, các NHTM cổ phần ngày càng đóng vai trò chủ đạo, thúc đẩy cạnh tranh trong toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung và nền kinh tế nói riêng. Ngoài ra, người ta có thể phân loại NHTM dựa vào tính chất hoạt động kinh doanh. Theo tiêu thức này các NHTM bao gồm ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ…Cùng với sự tham gia của các loại hình NHTM khác nhau, người tiêu dùng ngày càng có nhiều lựa chọn nhằm tối đa hóa lợi ích và đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường. Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng 2017, ngân hàng thương mại được tổ chức dưới 02 hình thức: 1) Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này; 2) Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
Khách hàng cá nhân Khái niệm và đặc điểm - Khái niệm: Khách hàng cá nhân là một người hoặc một nhóm người đã, đang, sẽ sử dụng dịch vụ và sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc gia đình của họ. - Đặc điểm + Số lượng lớn nhưng qui mô mỗi khách hàng nhỏ. 7 + Rất khác nhau về tuổi tác, giới tính, thu nhập, trình độ văn hóa, sở thích… + Nhu cầu thường xuyên thay đổi và gia tăng. Phân loại khách hàng cá nhân trong ngân hàng thương mại - Khách hàng cá nhân bên ngoài: Theo mục đích sử dụng, theo sản phẩm dịch vụ, theo doanh số/số lượng giao dịch, theo thời gian quan hệ.
- Khách hàng cá nhân nội bộ: Là một cách định nghĩa về đội ngũ nhân viên ở bên trong ngân hàng, các bộ phận có công việc phụ thuộc lẫn nhau. Vai trò và giá trị của khách hàng cá nhân trong ngân hàng thương mại. - Vai trò của khách hàng cá nhân: “Khách hàng là mục tiêu, là người quyết định sự sống còn của ngân hàng”. Khách hàng cá nhân chính là người tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng.
- Giá trị của khách hàng cá nhân: Giá trị khách hàng là giá trị kinh tế của khách hàng đối với ngân hàng, thể hiện thông qua lợi nhuận ròng. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Khái niệm hoạt động cho vay Cho vay là một trong những dịch vụ ngân hàng truyền thống mà các ngân hàng luôn chú trọng, đặc biệt quan tâm trong quá trình hình thành và phát triển. Đây là một trong những kênh đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó các tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Như vậy, cho vay chỉ là một trong những hình thức cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Khi khách hàng cần một số tiền để đầu tư kinh 8 doanh, mua sắm, chi tiêu tiêu dùng. khách hàng có thể tìm đến ngân hàng để được vay. Ngân hàng sẽ dựa vào một số tiêu chí nhất định để thẩm định phương án kinh doanh của khách hàng, thẩm định phương án hoàn trả nợ gốc và vốn vay, thẩm định năng lực tài chính của đối tượng vay, thẩm định uy tín, tài sản bảo đảm. Nhờ vào một số tiêu chí đó và các công việc thẩm định trên, ngân hàng có cơ sở để đảm bảo một cách tương đối rằng khách hàng có khả năng trả được lãi vay và nợ gốc trong tương lai, từ đó ngân hàng sẽ ra quyết định cho vay hay không và kiểm soát chặt chẽ món vay đó trong trường hợp khách hàng được vay vốn ngân hàng.
Khách hàng phải có cam kết rõ ràng về thời gian trả nợ, số tiền phải trả, mục đích sử dụng nợ bằng văn bản pháp luật. Nhờ vào hoạt động cho vay mà ngân hàng đã trở thành kênh luân chuyển trung gian giữa tiền từ nơi thiếu nhu cầu đầu tư kinh doanh sang nơi mà tiền đang rất được cần để đầu tư kinh doanh. Ngân hàng hưởng được lợi ích từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn, đồng thời bôi trơn guồng máy vận chuyển đồng tiền trong xã hội. Đặc trưng của cho vay Cho vay có hình thái giá trị tín dụng là tiền tệ: Không giống như các hình thức cấp tín dụng khác, cho vay có hình thái giá trị tín dụng là tiền tệ, xuất hiện từ rất sớm (chỉ sau chiết khấu).
Với hình thái tiền tệ, cho vay có nhiều lợi thế hơn so với các hình thức cấp tín dụng khác bởi vì nó có thể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội. Bản chất của hành vi cho vay là ứng trước nên độ rủi ro cao: khi khách hàng có nhu cầu cần một số tiền vay để đầu tư cho sản xuất kinh doanh hay trang trải cho nhu cầu mua sắm, khách hàng có thể tìm đến ngân hàng để xin vay vốn. Mặc dù, mỗi khoản vay đều có lãi suất tương ứng và ngân hàng cũng cần thẩm định rất kỹ trước khi cho vay nhưng có những biến cố xảy ra 9 mà cả khách hàng và ngân hàng đều không lường trước được. Tất cả những biến cố đó có thể làm cho khoản vay không được hoàn trả như cam kết ban đầu.
Những rủi ro bắt đầu tiềm ẩn và có thể xảy ra bất cứ khi nào từ khi khách hàng nhận được khoản tiền vay cho đến khi thu hồi nợ. “ Rủi ro của một khoản vay còn có nguyên nhân xuất phát từ hình thái giá trị tiền tệ của nó. Với chức năng là phương tiện thanh toán, tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích khác nhau cho mọi chủ thể trong nền kinh tế và trong xã hội. Chính do sự linh hoạt của mục đích sử dụng tiền nên thực sự rất khó kiểm soát khi tiền đã được chuyển vào tay khách hàng và đây có thể là một trong những lý do dẫn đến thất thoát tiền, không trả nợ được cho ngân hàng.
Điều này hoàn toàn không giống trong cho thuê tài chính. Bởi vì trong hình thức cấp tín dụng bằng tài sản thực này, việc khách hàng sử dụng tiền vay sai mục đích được giảm thiểu đến mức thấp nhất, do tài sản đã được tổ chức tín dụng mua về theo sự lựa chọn của khách hàng và giao cho khách hàng quyền sử dụng. Chính vì cho vay có độ rủi ro cao nên các ngân hàng thường áp dụng rất nhiều biện pháp đa dạng để tăng thêm độ an toàn cho ngân hàng khi cho vay, chẳng hạn quy định về mức vốn đối ứng của phương án vay, quy định về đảm bảo khoản vay, quy định quy trình giải ngân, giám sát khoản vay.Các quy định này không nhất thiết phải có trong các hình thức cấp tín dụng khác.” Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 thì cho vay khách hàng cá nhân là hoạt động cấp tín dụng cho các chủ thể là các cá nhân, hộ gia đình vay vốn theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng các quy định như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại. Cho vay khách hàng cá nhân là gói cho vay chỉ dành cho khách hàng cá nhân.
Các cá thể trong xã hội cần vốn để kinh doanh, đầu tư, hay mua sắm, có thể tìm đến các ngân hàng để được tư vấn và cho vay. Mỗi ngân hàng có các sản phẩm cho vay khác nhau dành cho mỗi đối tượng khách hàng cá nhân khác nhau.