Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng về hoạt động thanh toán quốc tế tại Agribank Chi nhánh tỉnh Hà Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Agribank Chi nhánh tỉnh Hà Nam. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về thanh toán quốc tế Các quốc gia trên thế giới không thể tồn tại và phát triển nếu không có sự hợp tác, giao lưu với nhau, trong đó lĩnh vực kinh tế mà chủ yếu là hoạt động ngoại thương đóng vai trò rất quan trọng. Quá trình tiến hành các hoạt động ngoai thương phát sinh nhu cầu thanh toán chi trả giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế và ngân hàng chính là trung gian thanh toán giữa các bên.
Nguyễn Văn Tiến (2017) định nghĩa “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, nay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan”. Người ta thường phân loại hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là thanh toán trong ngoại thương (thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu, các dịch vụ thương mại) và thanh toán phi ngoại thương (thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu hoặc các hoạt động không mang tính thương mại). Đặc điểm của thanh toán quốc tế Thứ nhất, hoạt động thanh toán quốc tế diễn ra giữa các quốc gia khác nhau, nơi mà luật pháp, phong tục, tập quán, và ngôn ngữ khác nhau. Vì vậy, các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán quốc tế ngoài việc chịu sự chi phối của luật pháp quốc gia mình, còn phải tuân thủ tập quán và các văn bản pháp lý quốc tế.
8 Thứ hai, trong thanh toán quốc tế, ngoài khu vực sử dụng đồng tiền chung thì các bên tham gia đều liên quan đến ngoại tệ, do đó thanh toán quốc tế phụ thuộc khá nhiều vào tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối của từng quốc gia. Thêm vào đó, ngôn ngữ sử dụng chính trong hoạt động thanh toán quốc tế là tiếng Anh. Thứ ba, ngân hàng có vai trò rất trọng yếu trong hoạt động thanh toán quốc tế vì chủ yếu các giao dịch chi trả đều được thực hiện qua hệ thống ngân hàng. Điều này đảm bảo các khoản thanh toán được thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng và hiệu quả.
Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Thanh toán quốc tế là một mảng nghiệp vụ mang lại doanh thu lớn cho ngân hàng thương mại, ngoài nguồn thu đến từ phí giao dịch, còn là nguồn thu đến từ hoạt động mua bán, cho vay ngoại tệ, bảo lãnh, v. Ngoài ra, thanh toán quốc tế còn giúp ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh và đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Bên cạnh việc tăng doanh thu cho ngân hàng, thanh toán quốc tế còn là hoạt động hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác trong ngân hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tốt sẽ bổ trợ cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu phát triển, tăng doanh số mua bán ngoại tệ và bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác.
Hoạt động thanh toán quốc tế còn giúp các ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng trên thế giới, qua đó tăng uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế, gia tăng được cơ hội hợp tác và khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài. Thanh toán quốc tế cũng tạo động lực cho các ngân hàng thương mại trong nước hiện đại hóa công nghệ để bắt kịp với các ngân hàng nước ngoài. Các giao dịch qua đó được thực hiện ngày càng chính xác, nhanh chóng và kịp thời, góp phần giảm thiểu rủi ro trong quá trình tác nghiệp. Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế Khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, ngoài việc các chủ thể tham gia phải tuân thủ luật pháp nước sở tại, còn phải tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thực tế, luật pháp của mỗi quốc gia là khác nhau nên không thể dùng luật pháp của quốc gia này áp dụng cho quốc gia khác. Chính vì vậy, một hệ thống luật pháp thống nhất mang tính quốc tế đã được xây dựng để điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế, nhằm giải quyết vấn đề mâu thuẫn luật pháp giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Thanh toán quốc tế là một hoạt động hết sức đặc thù, vì vậy nó có hệ thống nguồn luật riêng để điều chỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh hệ thống văn bản pháp lý đã được luật hóa thì vẫn tồn tại những văn bản pháp lý mang tính tùy ý tồn tại song song.
Những văn bản pháp lý tùy ý này đương nhiên được coi là dưới luật, có nghĩa là bất kỳ một văn bản pháp lý tùy ý nào cũng không được mâu thuẫn với luật nếu chúng không muốn bị coi là vô hiệu. Theo Nguyễn Văn Tiến (2017) ta có hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế theo trình tự pháp lý giảm dần như sau: - Các nguồn luật và công ước quốc tế - Hiệp định đa biên và song biên - Các nguồn luật quốc gia - Thông lệ và tập quán quốc tế (văn bản pháp lý tùy ý) 1. Một số luật và công ước quốc tế Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán quốc tế, gọi tắt là Công ước Viên 1980, (CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods – Vienne Convention 1980) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Kể từ ngày có hiệu lực (01/1/1988), cho đến nay công ước này đã trở thành một trong các công ước quốc tế 10 về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất.
Với số lượng thành viên đông đảo trong đó có cả những cường quốc lớn trên thế giới như Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Australia, Nhật Bản, v., ước tính công ước này điều chỉnh số lượng các giao dịch chiếm 3/4 thương mại hàng hóa trên thế giới. Thậm chí một số doanh nghiệp ở các quốc gia chưa phải là thành viên cũng đã áp dụng công ước này cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình. Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc trở thành thành viên thứ 84 của công ước này vào ngày 18/12/2015 và công ước này có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ 1/1/2017. Việc gia nhập CISG đã gia tăng sự hội nhập của Việt Nam trong quá trình tham gia các hoạt động thương mại quốc tế và mang lại cho các doanh nghiệp trong nước một khung pháp lý công bằng, an toàn để thực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế.
Công ước Geneve 1931 về Luật thống nhất về Séc (Uniform Law on Cheque - ULC 1931) đã được 30 nước thông qua trong một hội nghị quốc tế về séc tại Geneve. Công ước này đã cho phép các nước tham gia có “quyền bảo lưu” theo cách riêng của mình, làm cho tính thống nhất quốc tế trở nên không cao. Cho dù Công ước Genever 1931 về Luật séc quốc tế chưa mang tính quốc tế một cách tuyệt đối, nhưng khi các quốc gia xây dựng Luật séc cho mình vẫn dựa chủ yếu vào Công ước này. Công ước Geneve 1930 về Luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of Exchange – ULB 1930).
Ngày nay, luật hối phiếu thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước Châu Âu (ngoại trừ Anh). Nhiều nước mặc dù không tham gia Công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương thích với ULB 1930, chính điều đó càng làm cho tính hiệu lực quốc tế của ULB không những không bị yếu đi mà ngày càng được khẳng định trong thực tế. Ngoài ra còn có Công ước Liên hợp quốc về Hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế (UN – International Bill of Exchange and International Promissory Note), các 11 nguồn luật và công ước quốc tế về vận tải và bảo hiểm, các hiệp định song phương và đa quốc gia, v. Một số luật và văn bản pháp lý trong nước Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (gọi chung là quan hệ dân sự).
Luật Thương Mại số 36/2005/QH11 2005 điều chỉnh hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này; Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này. Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam số 49/2005/QH11 năm 2005: luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện. Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, cụng cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường. Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.