PHẦN MỞ ĐẦU 1. Ý nghĩa nghiên cứu: Công cuộc Đổi mới kinh tế Việt Nam đã đi qua ¼ thế kỷ, trải qua nhiều khó khăn thử thách nhƣng đã thu đƣợc nhiều thành tích đáng khích lệ. Nền kinh tế đã có tốc độ tăng trƣởng tƣơng đối cao trong một thời gian dài, đời sống nhân dân đƣợc nâng lên rõ rệt, cơ cấu kinh tế đã đƣợc chuyển dịch theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song, một trong những đổi mới quan trọng nhất và mang tính cơ bản nhất của công cuộc Đổi mới là việc chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, từ một nền kinh tế đơn thành phần (chủ yếu là quốc doanh và HTX) sang nền kinh tế đa thành phần với tỷ trọng của khu vực ngoài nhà nƣớc ngày càng gia tăng.
Cơ chế thị trƣờng đã đƣợc vận hành ngày càng hiệu quả hơn, góp phần không nhỏ cho việc nâng cao năng suất lao động cũng nhƣ tính hợp lý của quá trình phân phối kết quả lao động. Một trong những tiền đề để đạt đƣợc những kết quả đáng ghi nhận trên là sự hình thành và phát triển một hệ thống tài chính phù hợp với kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Hệ thống ngân hàng 2 cấp đã đƣợc hình thành từ đầu những năm 90’ của thế kỷ trƣớc, từng bƣớc phát triển và hoàn thiện, nhiều tổ chức tài chính phi ngân hàng đã đƣợc hình thành, thị trƣờng tài chính cũng đƣợc mở cửa tƣơng ứng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Hoạt động của hệ thống tài chính (cả ngân hàng và phi ngân hàng) đã đƣợc đa dạng hóa, lúc đầu chỉ có những hoạt động đơn giản nhƣ đi vay và cho vay và hiện nay đã có nhiều dịch vụ đa dạng hơn và cho thuê tài chính (CTTC) là một trong những hoạt động đa dạng đó.
Ngay trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách hệ thống tài chính, Chính phủ Việt Nam đã chú ý và quan tâm đến hoạt động CTTC, vì thế ngày từ 1995 Chính phủ đã ban hành những quy định pháp lý đầu tiến cho loại hình hoạt động này. Sự ra đời các hoạt động CTTC đã góp phần hỗ trợ cho việc giải quyết vấn đề vốn cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Trong suốt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iv những năm qua, quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam luôn đƣợc gắn với quá trình cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nƣớc (DNNN), khuyến khích hình thành và phát triển khu vực kinh tế tƣ nhân. Sau hơn 30 năm thực hiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khu vực kinh tế tƣ nhân hầu nhƣ không có tiềm lực đáng kể, hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực này đều là những doanh nghiệp nhỏ hoặc rất nhỏ, luôn gặp khó khăn về vốn cho đầu tƣ và sản xuất.
Chính vì vậy, về nguyên tắc, việc ra đời hoạt động CTTC đã đáp ứng đƣợc nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói riêng. Tuy vậy, hoạt động CTTC đã phát triển một cách hết sức chậm chạp trong suốt 15 năm qua. Tính đến thời điểm tháng 11/2011 mới chỉ có 12 công ty cho thuê tài chính đang hoạt động, trong đó có 08 công ty 100% vốn trong nƣớc, 01 công ty liên doanh, và 03 công ty 100% vốn nƣớc ngoài. Việc phân tích thực trạng hoạt động CTTC ở các công ty này có thể sẽ đóng góp một phần cho việc cải thiện hoạt động CTTC ở Việt Nam, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp và qua đó góp phần cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc.
Tuy vậy, việc phân tích hoạt động của toàn bộ các công ty CTTC đòi hỏi rất nhiều công sức và thời gian, mà khuôn khổ một đề tài luận văn không thể thực hiện đƣợc. Đề tài “Đánh giá thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính TNHH MTV KEXIM Việt Nam” muốn thông qua việc đánh giá trƣờng hợp điển hình tại Công ty CTTC TNHH MTV KEXIM Việt Nam (Kexim VLC) để đƣa ra những nhận định không chỉ về hoạt động CTTC ở Kexim VLC mà còn đƣa ra những khó khăn, vƣớng mắc chung đối với các hoạt động CTTC của các công ty trong lĩnh vực này ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thật khách quan thực trạng hoạt động của Kexim VLC trong 14 năm qua, làm rõ 2 vấn đề: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com v Khả năng tồn tại và phát triển của Kexim VLC trong 10 năm tới. Những định hƣớng và giải pháp lớn để Kexim VLC cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng cho thuê tài chính Việt Nam.
Mức độ tƣơng thích của Kexim VLC nói riêng, (của các công ty cho thuê tài chính nói chung), với môi trƣờng pháp lý cho thuê tài chính hiện hành. Từ đó có những kiến nghị cụ thể với Nhà nƣớc Việt Nam nhằm hoàn chỉnh hơn hệ thống Luật cho thuê tài chính, làm cho môi trƣờng hoạt động cho thuê tài chính trở nên thông thoáng hơn, công bằng hơn. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ đề cập đến thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Kexim VLC, thông qua các số liệu về cho thuê tài chính của công ty từ ngày mới thành lập – năm 1997 đến Quý III năm 2011. Phƣơng pháp nghiên cứu: Đƣợc thu thập chủ yếu từ những báo cáo nội bộ của Kexim VLC.
Dữ liệu về số lƣợng khách hàng, dƣ nợ, nguồn vốn và tài sản đƣợc sử dụng để đánh giá tình hình hoạt động hiện tại của Kexim. Kết hợp với những số liệu thống kê về tình hình đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam đến năm 2011 nhằm đúc kết ra những thông tin về tình hình vốn và đầu tƣ tại Việt Nam. Những phân tích đƣợc bắt đầu chủ yếu với thông kê mô tả những dữ liệu về khách hàng, tài sản, dƣ nợ. Cùng với những phân tích mô tả sơ bộ này, những lý thuyết về cho thuê tài chính sẽ đƣợc sử dụng trong việc giải thích và dự đoán hiện tƣợng trong thực tế thông qua những quan sát và khảo sát thực tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết cấu đề tài: Đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về cho thuê tài chính. Chƣơng này đƣa ra những nội dung khái quát về khái niệm cũng nhƣ nội dung hoạt động CTTC. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của Công ty Cho thuê tài chính TNHH MTV KEXIM Việt Nam.
Sau phần thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam và giới thiệu những nét khái quát về Kexim VLC, Chƣơng 2 đã phân tích những yếu tố tác động đến hoạt động CTTC của Kexim VLC từ góc độc môi trƣờng kinh doanh đến những đối thủ cạnh tranh. Chƣơng 2 cũng phân tích cả những điểm mạnh, yếu cơ bản của Kexim VLC. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động CTTC của Kexim VLC. Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động CTTC của Kexim VLC ở Chƣơng 2, cùng với việc chỉ ra những cơ hội và thách thức ở phần đầu Chƣơng 3, ngƣời viết đƣa ra những định hƣớng, giải pháp chính cho sự phát triển của Kexim VLC ở giai đoạn sắp tới; đồng thời cũng đƣa ra những kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà nƣớc Việt Nam nhằm hoàn thiện môi trƣờng pháp lý về CTTC.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH: 1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển: Kể từ khi loài ngƣời xuất hiện, các hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất và hàng hóa xuất hiện (cũng tức là xuất hiện khái niệm Tài sản), thì nhu cầu cho thuê tài sản phục vụ sản xuất và sinh hoạt của con ngƣời cũng hình thành theo quy luật cung cầu. Một số cá nhân (hay tổ chức) có tài sản nhàn rỗi có thể cho thuê để kiếm thêm thu nhập từ việc nhận đƣợc “phí” cho thuê tài sản của mình. Tài sản đƣơc đƣa ra giao dịch rất đa dạng: công cụ sản xuất, nhà cửa ruộng đất, phƣơng tiện phục vụ sinh hoạt. Cách đây hơn 2000 năm, ngƣời Iran cổ đã có các giao dịch cho thuê tài sản và nó đƣợc thể hiện trên các tài liệu có tính pháp lý.
Nhƣng văn bản quan trọng nhất, khá chặt chẽ và đầy đủ đƣợc coi là Bộ luật Thuê tài sản đầu tiên của thế giới là Bộ quy tắc giao dịch thuê tài sản của vua xứ Babilon – vua Hammurabi (1700 năm TCN). Trong giao dịch cho thuê tài sản, Bên cho thuê tiến hành chuyển giao quyền sử dụng tài sản của họ cho Bên thuê trong một thời gian đã đƣợc thoả thuận giữa hai bên để thu về tiền cho thuê. Trong suốt thời hạn hợp đồng cho thuê tài sản, quyền sở hữu tài sản không đƣợc chuyển giao từ Bên cho thuê sang Bên thuê nhƣng Bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản mà họ đã thuê. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, thế kỷ XIX và XX đã chứng kiến sự bùng nổ về sản xuất và kinh tế hàng hóa.
Sản xuất và tiêu dùng không chỉ rầm rộ phát triển theo bề rộng, mà còn mạnh mẽ đi vào chiều sâu theo nghĩa chất lƣợng và chuyên ngành. Điều này dẫn đến một thực tế là không có một tổ chức hành chính hoặc kinh tế nào có thể (và cũng không cần thiết) phải sở hữu toàn bộ sản phẩm xã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Họ sẽ sử dụng một số tài sản cụ thể của ngƣời khác để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh, giải trí của mình dƣới dạng thuê mƣớn.2 Khái niệm và Bản chất của CTTC 1.1 Khái niệm Theo Societe General Bank: Cho thuê tài chính là một thoả thuận trong đó Bên cho thuê chuyển cho Bên thuê quyền sử dụng một loại tài sản nào đó trong một thời gian thoả thuận để đổi lấy phí cho thuê. Trong suốt thời hạn hợp đồng, quyền sở hữu tài sản không chuyển cho Bên thuê nhƣng Bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản đó.
Theo International Finance Corporation: Cho thuê tài chính là một hợp đồng giữa Bên cho thuê và Bên đi thuê một tài sản cụ thể nào đó đƣợc Bên thuê chọn lựa từ một nhà sản xuất hay ngƣời bán tài sản. Bên đi thuê có toàn quyền giữ và sử dụng đối với tài sản này trong một thời gian nhất định khi trả tiền thuê tài sản.