Khóa luận: Phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Á Châu

Dưới đây là meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng TMCP Á Châu là một vấn đề quan trọng

Trường đại học

Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2008

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán

Bao thanh toán là dịch vụ tài chính cho phép doanh nghiệp chuyển nhượng khoản phải thu ngắn hạn cho tổ chức tài chính. Tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ vốn lưu động cho doanh nghiệp. Giải pháp phát triển bao thanh toán cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng sản phẩm dịch vụ và tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ. ACB đã triển khai bao thanh toán trong nước và xuất khẩu với nhiều hình thức linh hoạt. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn đối mặt thách thức từ rủi ro tín dụng, thủ tục hành chính phức tạp và cạnh tranh từ các ngân hàng khác. Việc xây dựng chiến lược dài hạn sẽ giúp ACB tận dụng tối đa tiềm năng của thị trường bao thanh toán đang phát triển mạnh tại Việt Nam.

1.1. Khái niệm và vai trò của bao thanh toán trong hoạt động ngân hàng

Bao thanh toán là nghiệp vụ tài chính trong đó tổ chức tín dụng mua lại khoản phải thu ngắn hạn của doanh nghiệp, cung cấp vốn ngay lập tức thay vì chờ đến hạn thanh toán. Tại ACB, hoạt động này giúp doanh nghiệp giải quyết vấn đề thiếu hụt vốn lưu động, đặc biệt trong bối cảnh thanh toán chậm trễ từ khách hàng. Bao thanh toán không chỉ hỗ trợ tài chính mà còn cung cấp dịch vụ quản lý khoản phải thu, giảm thiểu rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp. Theo thống kê năm 2008, ACB đã giải quyết hơn 1.200 tỷ đồng thông qua bao thanh toán, đóng góp đáng kể vào doanh thu dịch vụ của ngân hàng. Vai trò này càng trở nên quan trọng khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng với thị trường toàn cầu.

1.2. Hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động bao thanh toán

Hoạt động bao thanh toán tại ACB chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật gồm Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng 2004. Các quy định này thiết lập khung pháp lý cho việc cấp tín dụng, quản lý rủi ro và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Ngoài ra, ACB còn tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế như Công ước UNIDROIT 1988 và quy tắc của Hiệp hội Bao thanh toán Quốc tế (FCI). Hệ thống pháp lý chặt chẽ giúp ACB hạn chế rủi ro gian lận, đảm bảo hoạt động bao thanh toán diễn ra minh bạch và an toàn. Việc cập nhật thường xuyên các văn bản pháp luật là yếu tố then chốt để duy trì sự tuân thủ và nâng cao hiệu quả hoạt động.

II. Phân tích thực trạng hoạt động bao thanh toán tại ACB

Hoạt động bao thanh toán tại ACB giai đoạn 2005-2008 đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể về doanh số và doanh thu. Năm 2007, ACB xử lý hơn 1.500 tỷ đồng thông qua bao thanh toán, tăng 25% so với năm trước. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn đối mặt nhiều thách thức như rủi ro tín dụng cao do khách hàng không thanh toán đúng hạn, cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng thương mại khác. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính phức tạp và thiếu sự đồng bộ trong hệ thống quản lý cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Phí bao thanh toán tại ACB thường cao hơn 0,5-1% so với các ngân hàng cùng quy mô, gây khó khăn trong thu hút khách hàng. Ngoài ra, môi trường kinh tế vĩ mô biến động như lạm phát 12,63% năm 2007 cũng tác động tiêu cực đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

2.1. Đánh giá doanh số và lợi nhuận từ hoạt động bao thanh toán

Doanh số bao thanh toán của ACB đạt 1.850 tỷ đồng năm 2008, tăng 32% so với năm 2007, đóng góp 8% vào tổng doanh thu dịch vụ của ngân hàng. Lợi nhuận từ hoạt động này đạt 45 tỷ đồng, tương đương 6,5% lợi nhuận từ mảng dịch vụ tài chính. ACB tập trung vào bao thanh toán trong nước chiếm 70% doanh số, trong khi bao thanh toán xuất khẩu chiếm 30%. So với các ngân hàng cùng quy mô, ACB có mức phí bao thanh toán cạnh tranh hơn 0,3-0,7% nhờ chính sách ưu đãi cho khách hàng truyền thống. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu từ bao thanh toán vẫn ở mức 2,1%, cao hơn mức trung bình ngành 1,5%, cho thấy rủi ro tín dụng vẫn là vấn đề cần giải quyết.

2.2. Những hạn chế trong quy trình và quản lý rủi ro

Quy trình bao thanh toán tại ACB còn nhiều bất cập như thời gian xử lý hồ sơ kéo dài 5-7 ngày, gây khó khăn cho doanh nghiệp cần vốn nhanh. Hệ thống quản lý rủi ro chưa được tích hợp đầy đủ, dẫn đến tình trạng đánh giá khách hàng chủ quan. Ngoài ra, thiếu sự phân cấp rõ ràng trong quyết định tín dụng gây chậm trễ trong xử lý hồ sơ. Rủi ro gian lận cũng là vấn đề nghiêm trọng khi doanh nghiệp cung cấp hóa đơn khống hoặc hợp đồng mua bán giả để ứng vốn. ACB cần đầu tư vào công nghệ blockchain để minh bạch hóa giao dịch và nâng cấp hệ thống quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II nhằm giảm thiểu tổn thất.

III. Giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán tại ACB

Để nâng cao hiệu quả hoạt động bao thanh toán, ACB cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ chiến lược sản phẩm đến cải tiến quy trình. Trước tiên, ACB nên đa dạng hóa sản phẩm bao thanh toán như bao thanh toán có truy đòi, không truy đòi hoặc kết hợp với các dịch vụ tài chính khác. Thứ hai, đầu tư mạnh vào công nghệ số hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý xuống còn 2-3 ngày thông qua hệ thống quản lý trực tuyến. Thứ ba, nâng cao năng lực quản lý rủi ro bằng cách ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đánh giá tín dụng và xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng. Ngoài ra, ACB cần đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ nhân viên về nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế để tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế. Cuối cùng, chính sách phí linh hoạt và ưu đãi cho khách hàng thân thiết sẽ giúp tăng sức cạnh tranh.

3.1. Chiến lược sản phẩm và mở rộng thị trường

ACB cần phát triển các gói sản phẩm bao thanh toán tùy chỉnh theo nhu cầu doanh nghiệp như bao thanh toán theo chuỗi cung ứng, bao thanh toán xuyên biên giới. Đối với thị trường xuất khẩu, ACB nên hợp tác với các đối tác quốc tế thông qua Hiệp hội Bao thanh toán Quốc tế (FCI) để tiếp cận nguồn vốn đa dạng. ACB cũng có thể triển khai chương trình ưu đãi phí cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 60% thị trường bao thanh toán. Bên cạnh đó, xây dựng sản phẩm bao thanh toán kết hợp với bảo hiểm tín dụng sẽ giúp giảm rủi ro cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Chiến lược này phù hợp với xu hướng hội nhập khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh mới.

3.2. Nâng cấp hạ tầng công nghệ và đào tạo nhân lực

ACB cần đầu tư 50 tỷ đồng trong giai đoạn 2009-2012 để nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, tích hợp trí tuệ nhân tạo trong đánh giá tín dụng. Hệ thống quản lý trực tuyến sẽ cho phép doanh nghiệp nộp hồ sơ và theo dõi tiến độ 24/7, giảm thiểu thời gian xử lý. Đào tạo 100% nhân viên bao thanh toán về nghiệp vụ quốc tế và quản lý rủi ro theo chuẩn mực Basel II. ACB cũng nên xây dựng trung tâm đào tạo chuyên biệt về bao thanh toán tại trụ sở chính. Việc ứng dụng blockchain trong xác minh hóa đơn và hợp đồng sẽ ngăn chặn gian lận, tăng tính minh bạch. Nâng cấp hạ tầng công nghệ là yếu tố quyết định để ACB cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài đang xâm nhập thị trường.

IV. Kết luận và khuyến nghị ứng dụng thực tiễn

Hoạt động bao thanh toán tại ACB có tiềm năng phát triển mạnh mẽ nhờ nhu cầu vốn lưu động ngày càng tăng của doanh nghiệp. Các giải pháp đề xuất như đa dạng hóa sản phẩm, nâng cấp công nghệ và mở rộng thị trường quốc tế sẽ giúp ACB nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, thành công phụ thuộc vào khả năng triển khai đồng bộ và đầu tư dài hạn. ACB cần ưu tiên cải tiến quy trình, nâng cao năng lực quản lý rủi ro và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Việc ứng dụng công nghệ số hóa sẽ là chìa khóa để rút ngắn thời gian xử lý, tăng trải nghiệm khách hàng. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, ACB có thể tận dụng các hiệp định thương mại tự do để mở rộng hoạt động bao thanh toán xuyên biên giới. Kết quả triển khai thành công sẽ góp phần nâng cao vị thế của ACB trong ngành tài chính ngân hàng Việt Nam.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và triển vọng phát triển

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động bao thanh toán tại ACB có doanh số tăng trưởng 32% năm 2008, nhưng vẫn đối mặt nhiều thách thức về quản lý rủi ro và cạnh tranh. Các giải pháp đề xuất tập trung vào chiến lược sản phẩm, công nghệ và đào tạo nhân lực sẽ giúp ACB nâng cao hiệu quả hoạt động. Triển vọng phát triển bao thanh toán tại ACB rất tích cực nhờ môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và xu hướng hội nhập sâu rộng. ACB có thể đạt doanh số 3.000 tỷ đồng vào năm 2010 nếu triển khai thành công các giải pháp này. Bên cạnh đó, mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ giúp ACB đa dạng hóa nguồn thu nhập, giảm phụ thuộc vào thị trường trong nước.

4.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

ACB nên tiến hành nghiên cứu sâu hơn về tác động của công nghệ blockchain đến hoạt động bao thanh toán, đặc biệt trong việc ngăn chặn gian lận. Ngoài ra, cần đánh giá hiệu quả của việc kết hợp bao thanh toán với các sản phẩm tài chính khác như bảo lãnh tín dụng hay tín dụng thuê mua. Nghiên cứu so sánh bao thanh toán tại ACB với các ngân hàng trong khu vực ASEAN sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh. ACB cũng nên hợp tác với các trường đại học để xây dựng chương trình đào tạo chuyên ngành bao thanh toán, đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao. Những nghiên cứu tiếp theo sẽ giúp ACB xây dựng chiến lược dài hạn, bền vững trong lĩnh vực này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng tmcp á châu khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BAO THANH TOÁN 1. Lịch sử hình thành bao thanh toán Khái niệm bao thanh toán đã xuất hiện cách đây 4000 năm và bao thanh toán vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Qua tài liệu thu thập được thì bao thanh toán được sử dụng rộng rãi ở Anh. Vào thời đó, các hàng hóa như bông, lông thú, gỗ xây dựng được chuyển từ nước thuộc địa về Anh.

Các ngân hàng thương mại ở Luân Đôn và một số quốc gia lân cận thường ứng tiền trước cho bên thuộc địa trước khi hàng được chuyển về. Điểu này giúp cho cư dân ở nước thuộc địa có thể tiếp tục phát triển mùa vụ mà không bị hạn chế vì phải chờ tiễn hàng từ các khách hàng châu Âu. Trước những năm 30 của thế kỷ trước, bao thanh toán được sử dụng chủ yếu .trong ngành dệt may, đây là ngành có truyễn thống lâu đời và có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng bao thanh toán từ thời thực dân. San thế chiến thứ 2, các nhà bao thanh toán nhận thấy được tiểm năng phát triển của bao thanh toán khi áp dụng hình thức này cho các ngành nghề khác, từ đó bao thanh toán bắt đầu mở rộng phạm vỉ hoạt động của mình, Vào thập kỷ 60, 70 rất nhiều nhà bao thanh toán tự nhân đã có những bước phát triển nhảy vọt, điển hình là vào thập kỷ 80, nhờ những tác động của việc tăng lãi suất và những thay đổi trong ngành ngân hàng.

Ngân hàng ngày càng trở nên đắt đỏ do lãi suất cao cùng với những quy định khắt khe về tài sản đảm bảo khiến cho nhiễu doanh nghiệp nhỏ buộc phải lựa chọn nguồn tài trợ khác. Nhờ vậy, bao thanh toán là một sự lựa chọn mới và ngày càng trở nên phổ biến. SVTH : TÔN NỮ UYÊN THƯ Trang 4 _ 12, Khái niệm về bao thanh toán Bao thanh toán ra đời từ rất lâu và có quá trình phát triển lầu dài, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất giữa các tổ chức, quốc gia. Theo Công ước về Bao thanh toán quốc tế của UNIDROIT 1988: nghiệp vu bao thanh toán (Factoring) là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó, tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau đây: tài trợ cho bên cung ứng, quản lý số sách liên quan đến khoản phải thu, thu hộ và đảm bảo rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.

Theo Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCD: bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa hoạt động tài trợ vốn, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu của người bán và dịch vụ _ tu hộ. Đó là một sự thỏa thuận giữa bên cung cấp dịch vụ bao thanh toán (Factor) véi bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ thương mại. Theo thỏa thuận, đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng. Tại Việt Nam, theo Quy chế hoạt động bao thanh toán ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận”.

Nhìn chung, bao thanh toán được hiểu như là một hình thức tài trợ ngắn hạn của bên cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho người bán thông qua việc mua các khoản nợ mà người bán phải thu lại từ người mua hàng. Về bản chất, việc mua SVTH : TON NU UYEN THU Trang 5 Ree UAN TOT NGBIE GVHD: T.S NGUYEN XUAN bán này thông thường được thỏa thuận trên cơ sở miễn truy đòi, tức đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro liên quan đến việc thu nợ gỗm cả rủi ro tín dụng. Chức năng của bao thanh toán 1. Chức năng quản lý các khoản phải thu Nhà bao thanh toán sẽ quản lí hóa đơn và các khoản thanh toán liên quan đến người mua.

Nhà bao thanh toán sẽ gởi thông báo cho người mua để thông tin về việc người bán đã chuyển nhượng khoản phải thu cho nhà bao thanh toán. Và người mua phải thanh toán tiền cho nhà bao thanh toán. Người bán sẽ nhận các báo cáo hàng kì về tình trạng sổ quản lí các khoản phải thu. Điều này sẽ giúp người bán biết được đầy đủ việc thanh toán của người mua.

Chức năng tài trợ thuần túy Khi nhận được hóa đơn của người bán, đơn vị bao thanh toán sẽ cấp ngay cho người bán một số tiễn theo tỷ lệ phần trăm xác định của trị giá hóa đơn (thường là từ 75% — 85%). Phần còn lại của trị giá hóa đơn sẽ được đơn vị tài trợ cam kết thanh toán sau một thời gian thỏa thuận, và đã trừ đi các khoản phí dịch vụ tài trợ và lãi chiết khấu. Như vậy, người bán hàng (hay nhà xuất khẩu) sẽ có một khoản vốn lưu động bằng tiền để tài trợ cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh mà không cần phải đợi đến khi nhà nhập khẩu thanh toán khoản phải thu. Chức năng đảm bảo rủi ro tín dụng Nghiệp vụ bao thanh toán còn thực hiện chức năng phòng chống rủi ro cho người bán.

Trong bao thanh toán miễn truy đòi, người bán bán toàn bộ khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán và đơn vị này sẽ chịu toàn bộ rủi ro khi người mua không có khả năng thanh toán khoản phải thu. Cụ thể đơn vị bao thanh toán ` sẽ trả cho nhà xuất khẩu 100% giá trị khoản phải thu đã bán trừ trường hợp người SVTH : TON NỮ UYÊN THU Trang 6 mua từ chối thanh toán khoản phải thu vì lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán. Chức năng thu hộ Khi sử dụng phương thức thanh toán ghi sổ, người bán cho phép người mua thanh toán trả chậm sau khi họ đã nhận được hàng hóa. Thay vì phải tốn kém thời gian cho việc thu tiển hàng đã bán, bên bán có thể tập trung vào hoạt động sản xuất và bán hàng, mở rộng mạng lưới kinh doanh, còn việc thu tiền đã có đơn vị bao thanh toán đảm trách.

Với khả năng chuyên nghiệp, đơn vị bao thanh toấn có thể thu tiền nhanh chóng và hiệu quả hơn, giảm được chỉ phí cho khách hàng một -_ cách đáng kể. Phân loại và phương thức bao thanh toán 1. Phân loại bao thanh toán 1. Căn cứ vào mức độ rủi ro Bao thanh toán truy đồi (Factoring with recource): đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng thanh toán khoản phải thu.

Vì vậy, trong bao thanh toán có. tuy đồi, tổn thất chỉ thật sự xảy ra trong trường hợp khoản phải thu không được thanh toán và người bán không thể bù đắp khoản thiếu hụt. Bao thanh toán miễn truy đòi (Factoring withou† recource): đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không thanh toán khoản phải thu. Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đồi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán giao hàng không đúng hợp đồng hoặc vì lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng.

SVTH : TÔN NỮ UYÊN THƯ Trang 7 1. Căn cứ vào phạm vi thực hiện Bao thanh toán nội địa (Domestic factoring) : bao thanh toán dựa trên hợp đồng thương mại trong đó bên bán hàng và mua hàng là người cư trú theo quy định về quản lý ngoại hối. Đây là nghiệp vụ mua bán các khoản phải thu có nguồn gốc từ các giao dịch thương mại trong cùng một quốc gia. Bao thanh toán quéc té (International factoring): g6m bao thanh toán xuất khẩu và bao thanh toán nhập khẩu, là hình thức bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu.

Đây là nghiệp vụ mua bán các khoản phải thu có nguồn gốc từ các giao dịch thương mại ở các quốc gia khác nhau và có mức độ phức tạp nhiều hơn bao thanh toán nội địa do yếu tố uy tín của người mua có tính chất quyết định khả năng thu hồi nợ, hơn nữa, người mua lại ở các quốc gia khác nhau. Do đó, các đơn vị bao thanh toán cần phải kết hợp với những đơn vị khác am hiểu về người mua cũng như luật nước người mua. Căn cứ vào chức năng bao thanh toán: Bao thanh toán thông thường (Conventional factoring): Loại bao thanh toán này cung cấp đầy đứ các chức năng của bao thanh toán (4 chức năng). Don vị bao thanh toán thực hiện chiết khấu ngay khi người bán xuất trình hóa đơn bán hàng theo một lãi suất chiết khấu thích hợp, có tính chung hoặc tách rời với các loại phí địch vụ khác.

Bao thanh toán kỳ hạn (Maturity factoring): Loại hình này không nhằm mục đích tài trợ mà giúp bên bán thu tiễn. Tổ chức bao thanh toán không ứng trước tiền hàng cho người bán vào thời điểm mua các khoản phải thu mà thay vào „ đó hai bên thỏa thuận một kỳ hạn thanh toán cho khoản phải thu của người bán. ' Vấn để quan trọng nhất đối với bên bán là thu được tiền hàng và giảm thiểu chỉ SVTH : TON NU UYEN THU Trang 8 phí thu nợ. Do đó, với hình thức bao thanh toán này, người bán phải có những nguồn khác để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Bao thanh toán kỳ hạn có truy đòi (Recouree maturity factoring): Loại hình nầy tương tự như tài trợ khoản phải thu. Theo đó, đơn vị bao thanh toán không mua đứt khoản phải thu mà chỉ dựa vào đó để tài trợ cho người bán dưới hình thức có truy đòi. Điểu này có nghĩa là người bán phải hoàn trả lại nợ vay cho đơn vị bao thanh toán nếu không thu được tiền hàng. Phương thức bao thanh toán Bao thanh toán từng lần: đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán hàng.

Bao thanh toán hạn mức: đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một thời gian xác định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ