CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM 1. Khái niệm về bảo lãnh Theo điều 361 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH 11 ngày 14/06/2005 khái niệm bảo lãnh được xác định như sau: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (Bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (Bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.
Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng Theo Khoản 18, Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành năm 2010 thì khái niệm về bảo lãnh ngân hàng được giải thích như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Các bên tham gia trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng 1. Bên bảo lãnh Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng, bao gồm Ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật Các Tổ chức tín dụng (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Bên được bảo lãnh Là các khách hàng bao gồm: Tổ chức là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các Tổ chức tín dụng, hợp tác xã và 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ Luật Dân Sự, các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam (Nguyễn Minh Kiều, 2012); Trong Khoản 3, Điều 3 của Thông tư 28 Quy định về bảo lãnh ngân hàng ban hành năm 2012 quy định: “Cá nhân là người không cư trú được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh”.
Bên nhận bảo lãnh Thông tư 28 Quy định về bảo lãnh ngân hàng xác định: “Bên nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân là người cư trú hoặc không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành”. Ngoài ra, còn có thể có các bên liên quan khác như: bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh,. Cam kết bảo lãnh Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì: “Cam kết bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng hoặc văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, khách hàng được bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh”. Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng 1.
Bảo lãnh là công cụ đảm bảo Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh. Bằng việc dùng chính năng lực tài chính và uy tín của mình, các ngân hàng phát hành bảo lãnh cam kết sẽ chi trả bồi thường thay cho khách hàng khi xảy ra sự cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người nhận bảo lãnh. Chính sự bảo đảm này tạo ra sự tin tưởng khiến cho các hợp đồng được ký kết một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây cũng là điểm khác biệt của bảo lãnh so với tín dụng chứng từ (Nguyễn Minh Kiều, 2012).
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bảo lãnh là công cụ tài trợ Bảo lãnh không chỉ là một công cụ quan trọng hỗ trợ cho việc đảm bảo các giao dịch kinh tế phát sinh của khách hàng, mà bảo lãnh còn là công cụ tài trợ cho người được bảo lãnh. Thông qua bảo lãnh, ngân hàng có thể sẵn sàng cấp tín dụng tài trợ cho khách hàng là người được bảo lãnh trong những trường hợp gặp khó khăn về vấn đề tài chính, cụ thể ngân hàng đứng ra cho vay để thanh toán hàng hóa, dịch vụ, trả nợ vay,…Vì thế, dù không trực tiếp cấp vốn như trong cho vay nhưng bảo lãnh ngân hàng đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu cấp thiết về vấn đề vốn hoạt động cho các doanh nghiệp (Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc, 2012). Vai trò Bên cạnh hai chức năng cơ bản được đề cập như trên, thì dịch vụ bảo lãnh còn đem đến những lợi ích nhất định cho các chủ thể khác nhau khi tham gia bảo lãnh.
Dưới góc nhìn của Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc (2012) thì vai trò của bảo lãnh đối với từng đối tượng tham gia bảo lãnh được thể hiện như sau: 1. Đối với nền kinh tế Bảo lãnh góp phần tài trợ vốn tín dụng cho nền kinh tế. Thông qua bảo lãnh các doanh nghiệp nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có đủ uy tín có thể tiếp cận được các nguồn vốn khác nhau trong và ngoài nước để thực hiện mở rộng sản xuất kinh doanh. Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với những nước đang trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước như nước ta hiện nay.
Bên cạnh đó, bảo lãnh còn đóng vai trò là chất xúc tác hoạt động thương mại, tài chính phát triển. Trong giao dịch thương mại quốc tế thì khoảng cách về địa lý cũng như rào cản về ngôn ngữ và tập quán thương mại đã gây nên sự thiếu tin tưởng giữa các đối tác với nhau. Sự xuất hiện của bảo lãnh ngân hàng là giải pháp lựa chọn tốt nhất tạo nên sự an tâm, tin tưởng và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ cho các bên chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng thương mại. Điều này đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển hơn (Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc, 2012).
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối với bên bảo lãnh Bảo lãnh góp phần đa dạng hóa sản phẩm tín dụng của ngân hàng, phân tán rủi ro tín dụng, do bảo lãnh không chỉ đáp ứng cho hoạt động thương mại (bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh bảo hành…) mà còn phục vụ trong lĩnh vực trong tài chính (bảo lãnh thuế, bảo lãnh phát hành, bảo lãnh đấu thầu…). Ngoài ra, bảo lãnh còn đem lại cho ngân hàng nguồn thu nhập đáng kể từ phí bảo lãnh và lãi vay nếu như ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng (Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc, 2012). Đối với bên được bảo lãnh Bảo lãnh được xem là một công cụ hỗ trợ tốt giúp cho bên nhận bảo lãnh có thể nhận được sự tài trợ vốn tín dụng và các dịch vụ tiện ích từ phía ngân hàng.
Nhờ có bảo lãnh mà bên được bảo lãnh có thể tiếp cận với những dự án, hợp đồng,. ngay cả khi họ có đủ năng lực về tài chính nhưng lại chưa tạo dựng được thương hiệu và uy tín trên thị trường cũng như với đối tác. Đồng thời, bảo lãnh còn thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh nghiêm túc, hiệu quả và có trách nhiệm để hoàn thành các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng dưới sự kiểm soát thường xuyên của ngân hàng bảo lãnh (Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc, 2012). Đối với bên nhận bảo lãnh Bảo lãnh là công cụ đảm bảo quyền lợi cho người nhận bảo lãnh, giúp cho bên nhận bảo lãnh giảm được nguy cơ bị thiệt hại dưới sự cam kết bằng năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng bảo lãnh.
Hơn nữa, bên nhận bảo lãnh sẽ nhận được bồi thường từ phía ngân hàng bảo lãnh nếu như xuất trình đầy đủ các hồ sơ, văn bản chứng minh được rằng bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại bảo lãnh ngân hàng Trên thực tế, có rất nhiều cách thức để phân loại bảo lãnh ngân hàng, điển hình là 2 tiêu chí phân loại theo phạm vi và phương thức phát hành bảo lãnh được Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc (2012) trình bày như sau: 1. Phân loại theo phạm vi Bảo lãnh trong nước Là hình thức bảo lãnh giữa ngân hàng với khách hàng thực hiện các giao dịch kinh tế phát sinh trong nước.
Bão lãnh ngoài nước Là hình thức bảo lãnh giữa ngân hàng với khách hàng thực hiện các giao dịch kinh tế phát sinh giữa chủ thể trong nước với chủ thể ngoài nước trong thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế. Phân loại bảo lãnh theo phương thức phát hành Bảo lãnh trực tiếp Là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh thực hiện hành vi cam kết bảo lãnh chịu trách nhiệm trực tiếp đối với người được bảo lãnh. Người được bảo lãnh phải trực tiếp hoàn trả nợ và lãi phát sinh cho ngân hàng bảo lãnh khi ngân hàng bảo lãnh thực hiện cam kết bảo lãnh thông qua việc cho vay để thực hiện cam kết tài chính. Bảo lãnh trực tiếp rất phổ biến còn được hiểu là bảo lãnh thông thường.
Tham gia hình thức này có 3 bên tham gia là: người bảo lãnh, người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. Bảo lãnh gián tiếp Là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh thực hiện hành vi cam kết bảo lãnh đối với người được bảo lãnh thông qua một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh, dựa trên cơ sở bảo lãnh của ngân hàng trung gian đối với người được bảo lãnh.