chương I, điều 4, mục 4 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tư nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch , tuyến du lịch, đô thị du lịch. Loại hình du lịch Để đưa ra được định hướng và chính sách phát triển đúng đắn về du lịch, các nhà quản lý vĩ mô về du lịch cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch cần phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau. Việc phân loại sẽ đảm bảo tính hệ thống khi có quan điểm thống nhất về khái niệm loại hình du lịch. Theo tác giả Trương Sỹ Quý thì loại hình du lịch có thể được định nghĩa như sau: “Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc dđược bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá nào đó.” 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phân loại loại hình du lịch Hoạt động du lịch diễn ra rất phong phú và đa dạng nên tuỳ thuộc vào cách phân chia mà có các loại hình du lịch khác nhau.Trong giáo trình “Kinh tế du lịch” của Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa đã được xuất bản năm 2009 của trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, khi phân loại các loại hình du lịch các tiêu thức phân loại thường được sử dụng như sau: 1. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa. Du lịch quốc tế : là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của quốc gia khác nhau.
Ở hình thức du lịch này khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở điểm đến du lịch. Du lịch nội địa : là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm trong lãnh thổ của một quốc gia. Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành những loại hình sau: Du lịch chữa bệnh: ở thể loại này khách đi du lịch do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ.
Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức du lịch này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày. Du lịch thể thao: loại hình du lịch này được chia thành: Du lịch thể thao chủ động: khách đi du lịch để tham giatrực tiếp vào các hoạt động thể thao. Du lịch thể thao bị động: khách đi du lịch đến để xem các cuộc thi đấu thể tha quốc tế, các thế vận hội… 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Du lịch văn hóa: là loại hình du lịch nhằm nâng cáo hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục, tập quán của đất nước du lịch.
Du lịch công vụ: là loại hình du lịch nhằm thực hiện thêm nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó. Du lịch thương gia: loại hình này mục đích chính của du khách là đi tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án đầu tư, ký kết hợp đồng… Du lịch tôn giáo: loại hình này nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo giáo khác nhau. Du lịch than hỏi, du lịch quê hương: là loại hình du lịch nảy sinh du nhu cầu của những người xa quê hương đi thăm hỏi bà con họ hàng, bạn bè thân, dụ đám cưới… Du lịch quá cảnh: nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một nước nào đó trong thời gian ngắn để đến nước khác. Căn cứ vào đối tượng khách du lịch.
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: ‒ Du lịch thanh, thiếu niên ‒ Du lịch dành cho những người cao tuổi ‒ Du lịch phụ nữ, du lịch gia đình 1. Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: Du lịch theo đoàn: là loại hình du lịch mà khách du lịch đi theo đoàn và chương trình được chuẩn bị từ trước. Có thể tổ chức chuyến đi du lịch thông qua các tổ chức du lịch hoặc tự tổ chức chuyến đi đó.
Du lịch cá nhân: du lịch cá nhân có thông qua các tổ chức du lịch: cá nhân đi du lịch theo kế hoạch định trước của tổ chức du lịch, tổ chức công đoàn hay tổ chức xã hội khác. Khách du lịch không phải đi cùng đoàn mà chỉ tuân theo những điều kiện đã được thông báo và chuẩn bị trước. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Căn cứ vào phương tiện giao thông.
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: ‒ Du lịch bằng xe đạp ‒ Du lịch bằng xe máy ‒ Du lịch bằng ô tô ‒ Du lịch bằng tàu hỏa ‒ Du lịch bằng tàu thủy ‒ Du lịch bằng máy bay 1. Căn cứ vào phương tiện lưu trú được sử dụng. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: ‒ Du lịch ở khách sạn (hotel) ‒ Du lịch ở khách sạn ven đường (motel) ‒ Du lịch ở lều, trại (camping) ‒ Du lịch ở làng du lịch (tourism village) 1. Căn cứ vào thời gian du lịch.
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: ‒ Du lịch dài ngày ‒ Du lịch ngắn ngày (thường gọi là du lịch cuối tuần) 1. Căn cứ vào vị trí địc lý của nơi đến du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: ‒ Du lịch nghỉ núi ‒ Du lịch nghỉ biển, sông, hồ ‒ Du lịch thành phố ‒ Du lịch đồng quê 1. Môi trường du lịch Môi trường được hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đấy và cũng chịu tác động ngược lại của vật thể đó.
Môi trường chung bao gồm môi trường tự nhiên, dù bị con người tác động ở các mức độ khác nhau nhưng vẫn phát triển theo các quy luật đặc thù riêng, và môi trường nhân tạo được tạo ra bởi lao động và ý thức của con người từ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguồn vật liệu tự nhiên nhưng khác nhiều hoặc khác hẳn các vật thể tương tự trong thiên nhiên. Khái niệm môi trường du lịch theo nghĩa rộng bao gồm các nhân tố về tự nhiên, kinh tế- xã hội và nhân văn trong đó hoạt động du lịch tổn tại và phát triển. Hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với môi trường, khai thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi các đặc tính của môi trường. Hoạt động phát triển du lịch luôn gắn liên với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ của núi, sông, biển.
và các giá trị văn hóa, nhân văn. Trong nhiều trường hợp, hoạt động du lịch tạo nên những môi trường nhân tạo như công viên vui chơi giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hóa. trên cơ sở của một hoặc tập hợp các đặc tính của môi trường tự nhiên như một hang động, một quả đồi, một khúc sông, một khu rừng. hay một đền thờ, một quần thể di tích.
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) khẳng định: “Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Phát triển bền vữngvà phát triển du lịch bền vững 1. Phát triển bền vững Phát triển được hiểu là quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học - kỹ thuật, văn hóa… Phát triển là xu hướng tự nhiên tất yếu của thế giới vật chất nói chung và của xã hội loài người nói riêng. Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần của con người dựa trên phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng.
Sự thay thế của các hình thái xã hội từ thấp lên cao đó là sự thay thế từ xã hội công xã nguyên thủy lên chiếm hữu nô lệ lên phong kiến rồi lên xã hội tư bản… được coi là quá trình phát triển. Cùng với việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng dân cư, hoạt động phát triển đã và đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, tạo nên những tác 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động tiêu cực gây suy thoái môi trường, sinh thái. Một thực tế là tài nguyên thiên nhiên không phải là vô hạn trên trái đất, nếu việc khai thác bừa bãi, không có kiểm soát không những làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng cho môi trường, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của loài người trong tương lai. Chính từ sự nhận thức về sự phát triển như vậy, nên khái niệm về “phát triển bền vững” được nhiều quốc gia quan tâm.
Khái niệm bền vững ở đây được hiểu là tỷ lệ sử dụng một tài nguyên không vượt quá tỷ lệ bổ sung tài nguyên đó. Sử dụng bền vững tồn tại khi nhu cầu về một tài nguyên thấp hơn cung cấp mới hay nói cách khác đi sự phân phối và tiêu dùng một tài nguyên được giữ thấp hơn sản lượng bền vững tối đa. Cụm từ "phát triển bền vững" có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào thế kỷ XIX, nhưng khái niệm này chỉ được phổ biến rộng rãi ở thập niên 80 của thế kỷ XX. Năm 1980, Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) cho rằng: "phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”.