Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên giai đoạn 2011 - 2015" do sinh viên Nguyễn Thị Vân (lớp VH1101, ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) thực hiện năm 2011 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Văn Luân. Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương và phát huy tiềm năng tài nguyên du lịch sẵn có của một huyện cửa ngõ quan trọng thuộc thành phố Hải Phòng.

Về bối cảnh thực tiễn, huyện Thủy Nguyên là địa bàn có bề dày lịch sử hình thành lâu đời bậc nhất của Hải Phòng, lưu giữ hệ thống di chỉ khảo cổ học giá trị cùng kho tàng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú. Địa phương sở hữu cảnh quan tự nhiên đa dạng gồm cả địa hình karst đồi núi đá vôi, đồng bằng và mạng lưới sông hồ dày đặc như sông Bạch Đằng, hồ sông Giá. Nằm ở vị trí ven đô liền kề nội thành, tiếp giáp tỉnh Quảng Ninh và nằm trên trục Quốc lộ 10, Thủy Nguyên giữ vai trò cầu nối giao thương, du lịch giữa Hải Phòng với Di sản Thiên nhiên Thế giới vịnh Hạ Long và cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Tuy nhiên, việc khai thác các tiềm năng tự nhiên và nhân văn trên địa bàn huyện trong giai đoạn trước năm 2011 vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng để trở thành một trung tâm du lịch lớn của thành phố.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển ngành du lịch huyện giai đoạn 2011 - 2015. Tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch và thực tiễn phát triển du lịch trên địa bàn huyện.
  2. Đánh giá hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của huyện Thủy Nguyên.
  3. Nghiên cứu thực trạng hoạt động và công tác quản lý du lịch của huyện trong giai đoạn khảo sát.
  4. Rút ra các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển du lịch của địa phương.
  5. Nghiên cứu, đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch Thủy Nguyên đến năm 2015.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Thủy Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (bao gồm 35 xã và 2 thị trấn với diện tích tự nhiên 243 km²).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng phát triển du lịch địa phương trong giai đoạn 2006 - 2011 và đề xuất các giải pháp định hướng thực hiện cho giai đoạn 2011 - 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các quan niệm và văn bản quản lý nhà nước về du lịch:

  • Khung khái niệm và lý thuyết: Tác giả đối chiếu các định nghĩa du lịch từ Liên hiệp quốc các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO), Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Roma (1963), các góc độ tiếp cận về không gian, kinh tế, và đặc biệt là định nghĩa chuẩn tắc trong Luật Du lịch Việt Nam (2005). Luận văn làm rõ 4 chức năng cơ bản của du lịch: chức năng xã hội (phục hồi sức khỏe, giao lưu văn hóa), chức năng kinh tế (tái sản xuất sức lao động, kích thích cơ cấu ngành), chức năng sinh thái (tối ưu hóa môi trường sống) và chức năng chính trị (giao lưu quốc tế, củng cố hòa bình). Khóa luận cũng phân loại chi tiết các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi (tham quan, lễ hội, nghỉ dưỡng, khám phá, tôn giáo, hội nghị...), theo môi trường tài nguyên, đặc điểm địa lý, lãnh thổ, phương tiện giao thông, loại hình lưu trú và độ tuổi.
  • Văn bản quy phạm pháp luật: Luật Du lịch; Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/06/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch; Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL và Thông tư số 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch; cùng định hướng quy hoạch phát triển đô thị - hành chính thành phố Hải Phòng đến năm 2020.
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp luận kết hợp lý luận với thực tiễn, bao gồm:
    • Phương pháp thu thập, điều tra thực địa tại các điểm di tích, danh thắng và cơ sở dịch vụ trên địa bàn huyện.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu chuyên ngành.
    • Phương pháp thống kê, phân loại và lập bảng số liệu để đánh giá tài nguyên, di tích, lễ hội và làng nghề truyền thống.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thủy Nguyên, báo cáo quy hoạch của UBND huyện Thủy Nguyên, số liệu thống kê dân số năm 2004, các báo cáo chuyên ngành du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng, cùng hệ thống thần tích, thần phả tại các di tích địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch

Chương 1 khái quát các khái niệm cơ bản về du lịch, khách du lịch (nội địa, quốc tế), tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn) và hệ thống phân loại loại hình du lịch. Đồng thời, tác giả phân tích tác động nhiều chiều của hoạt động du lịch đối với đời sống kinh tế - xã hội và môi trường:

  • Tác động kinh tế: Du lịch đóng vai trò là ngành kinh tế dịch vụ kích thích các ngành sản xuất liên quan (nông nghiệp, chế biến thực phẩm, giao thông). Tác giả viện dẫn số liệu toàn quốc: ngành du lịch đóng góp khoảng 5% GDP quốc gia, thu hút gần 1 triệu lao động (từ năm 1991 đến năm 2009, lao động trực tiếp tăng 20 lần, từ 21.000 người lên số lượng lớn, lao động gián tiếp đạt 737.000 người); năm 2009, vốn FDI đăng ký vào du lịch đạt 8,8 tỷ USD trên tổng số 22,48 tỷ USD (chiếm 41%). Tuy nhiên, du lịch cũng có thể gây lạm phát cục bộ và làm tăng giá cả sinh hoạt tại địa phương.
  • Tác động xã hội và môi trường: Hoạt động du lịch góp phần bảo tồn truyền thống, tạo việc làm, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, nhưng cũng đối mặt với nguy cơ phát sinh tệ nạn xã hội và xung đột văn hóa nếu không quản lý tốt. Về môi trường, việc tập trung đông khách du lịch vượt tải có nguy cơ làm suy thoái tài nguyên karst, xả rác bừa bãi và ảnh hưởng tiêu cực đến sinh cảnh động thực vật hoang dã.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thuỷ Nguyên giai đoạn từ năm 2011 đến 2015

Chương 2 tập trung khảo cứu toàn diện vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tiềm năng văn hóa nhân văn và hiện trạng ngành du lịch huyện Thủy Nguyên đến thời điểm năm 2011:

  • Đặc điểm địa bàn và tài nguyên tự nhiên: Huyện Thủy Nguyên (tên cũ là Thủy Đường, đổi tên từ năm 1886 do kỵ húy vua Đồng Khánh - Ưng Đường) có diện tích 243 km², gồm 35 xã và 2 thị trấn (trong đó có 6 xã miền núi). Dân số năm 2004 là 284.400 người, mật độ 1.171 người/km². Địa hình chia cắt mạnh thành hai cấu trúc chính là phức nếp lồi Hạ Long và phức nếp lõm Hải Phòng, ngăn cách bởi đứt gãy hồ sông Giá (trữ lượng nước trên 3 triệu m³). Huyện có địa hình đồi núi karst với nhiều hang động tự nhiên có chiều dài phổ biến dưới 200m (tối đa không quá 500m) như hang Lương, hang Vua, hang Vải, hang Ma, hang Đốc Tít. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển với lượng mưa trung bình 162 mm (năm cao nhất đạt 1.700 mm), độ ẩm 82 - 85%.
Nhóm tài nguyên Danh mục tiêu biểu tại Thủy Nguyên Đặc điểm và phân bố
Núi và đồi núi Núi Ba Phủ (200m), Chợ Giời (250m), Núi Ním (150m), Núi Sơn Đào (300m), Núi Treo, Núi U Bò, Núi Rồng Phân bố tại Kỳ Sơn, Thủy Sơn, Quảng Thanh, Minh Đức, Gia Đức, Lưu Kiếm
Hang động Karst Hang Lương, Hang Vua, Hang Áng Vải, Hang Ma, Hang Đốc Tít, Động Thung Điều Chiều dài dưới 200m - 500m; nằm ở phía Bắc huyện (Minh Tân, Gia Minh, An Sơn, Lại Xuân)
Mặt nước & Sông ngòi Hồ sông Giá, sông Bạch Đằng, sông Hàn, sông Cửa Cấm, sông Đá Bạc Hồ sông Giá trữ lượng >3 triệu m³; nguồn nước mặt và nước ngầm (mực nước cách mặt đất 0,5 - 2m)
Di tích lịch sử - văn hóa Đền thờ Trần Quốc Bảo, Đình Kiền Bái, Đình Đồng Lý, Cụm di tích Trạng nguyên Lê Ích Mộc, Chùa Hàm Long, Chùa Mỹ Cụ Toàn huyện có trên 150 di tích (23 di tích cấp quốc gia, 36 di tích cấp thành phố)
Di chỉ khảo cổ học Di chỉ Tràng Kênh (Minh Đức), Di chỉ mộ thuyền Việt Khê (Phù Ninh) Quần thể di chỉ khảo cổ học kim khí - đồ đồng; Tràng Kênh xếp hạng di tích và danh thắng năm 1962
Di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội Đền Trần Quốc Bảo (mùng 6 tháng Giêng), Hội hát Đúm Tổng Phục, Nghệ thuật Ca trù Đông Môn Hát Đúm tại 3 xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ gắn với hội mở mặt; Ca trù Đông Môn gắn với đào nương Phạm Thị Sang
Làng nghề truyền thống Đúc đồng Mỹ Đồng/Thiên Hương, rèn đúc Phù Ninh/Lâm Động/Hoa Động, đan lát Chính Mỹ, dệt vải Lâm Động, gốm vôi Minh Đức/Lại Xuân 14 xã duy trì các nghề thủ công truyền thống và nuôi trồng thủy sản
Sản vật & Ẩm thực Cau Cao Nhân, bưởi Lâm Động, dừa Kỳ Sơn/Lại Xuân, chè Lưu Kiếm, rượu ngán, chả cuốn hành trần, sứa mùa xuân Các sản phẩm nông nghiệp và ẩm thực đặc sản gắn liền với địa phương
  • Thực trạng hoạt động và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:
    • Quản lý nhà nước: Công tác phổ biến pháp luật (Luật Du lịch, Nghị định 92/2007/NĐ-CP, Nghị định 140/2007/NĐ-CP) và kiểm tra liên ngành đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú được duy trì.
    • Cơ sở lưu trú: Toàn huyện có trên 40 cơ sở kinh doanh lưu trú (tiêu biểu như khách sạn Hoa Thị, Quỳnh Trang, Hòa Bình, Đồng Cau, City View). Tuy nhiên, chỉ có duy nhất khách sạn City View được xếp hạng 2 sao, các cơ sở còn lại đều ở quy mô vừa và nhỏ, thiếu các dịch vụ bổ trợ cao cấp như spa, thẩm mỹ, vật lý trị liệu, phòng tập thể thao.
    • Cơ sở ăn uống và giải trí: Có gần 20 nhà hàng ăn uống quy mô lớn với năng lực phục vụ từ 100 đến 300 khách/lượt; hệ thống giải trí (karaoke, internet, câu lạc bộ) mới ở bước đầu phát triển.
    • Nguồn nhân lực: Trình độ nhân lực du lịch còn thấp, lao động qua đào tạo đại học chuyên ngành rất ít, chủ yếu là trình độ trung cấp hoặc lao động phổ thông; các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn phần lớn có quy mô nhỏ lẻ.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên giai đoạn 2011 đến 2015

Trên cơ sở đánh giá tiềm năng và hạn chế, tác giả xác định quan điểm phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn di sản văn hóa, giữ gìn môi trường sinh thái và thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn. Khóa luận đề xuất 8 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Bảo tồn và phát huy tài nguyên du lịch địa phương: Thực hiện trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, bảo tồn không gian di chỉ khảo cổ Tràng Kênh, Việt Khê và các hang động karst. Khôi phục các lễ hội dân gian truyền thống, hội hát Đúm và không gian ca trù Đông Môn phục vụ du khách.
  2. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch: Củng cố bộ máy quản lý văn hóa - du lịch từ cấp huyện đến xã; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh doanh lưu trú, an ninh trật tự, PCCC và vệ sinh an toàn thực phẩm.
  3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Mở các lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch, bồi dưỡng kiến thức văn hóa địa phương, ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp cho đội ngũ nhân viên khách sạn, nhà hàng và cộng đồng dân cư địa phương.
  4. Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch: Biên soạn ấn phẩm, xây dựng bản đồ du lịch, tăng cường giới thiệu các tuyến điểm du lịch Thủy Nguyên trên các phương tiện truyền thông và liên kết với các công ty lữ hành tại Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh.
  5. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật: Nâng cấp các tuyến giao thông liên xã kết nối Quốc lộ 10 đến các khu di tích; khuyến khích đầu tư xây dựng khách sạn đạt chuẩn từ 3 sao trở lên; phát triển các dịch vụ bổ trợ và khu vui chơi giải trí cao cấp tại khu vực hồ sông Giá.
  6. Xây dựng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù gồm: du lịch văn hóa - lịch sử - tâm linh (đền Trần Quốc Bảo, đình Kiền Bái, di tích Bạch Đằng); du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và thể thao (hồ sông Giá); du lịch tham quan làng nghề truyền thống và trải nghiệm ẩm thực địa phương.
  7. Thu hút và đa dạng hóa nguồn lực đầu tư: Áp dụng chính sách khuyến khích xã hội hóa, thu hút nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào các dự án du lịch trọng điểm.
  8. Bảo vệ môi trường du lịch: Xây dựng hệ thống thu gom và xử lý rác thải tại các điểm tham quan, quản lý hoạt động khai thác đá vôi nhằm ngăn chặn việc hủy hoại cảnh quan tự nhiên và các hang động karst, giữ gìn môi trường nước hồ sông Giá.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp thực tiễn chính:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu về tài nguyên du lịch Thủy Nguyên: Khóa luận đã lập danh mục chi tiết, phân loại và số hóa thành các bảng thống kê cụ thể về tài nguyên tự nhiên (độ cao các đỉnh núi, hang động tại từng xã), tài nguyên nhân văn (hơn 150 di tích, 23 di tích cấp quốc gia, 36 di tích cấp thành phố phân bố tại 27 xã/thị trấn), hệ thống 26 lễ hội dân gian và các làng nghề truyền thống tại 14 xã.
  • Phân tích thực trạng có căn cứ: Đánh giá đúng thực trạng hạ tầng và dịch vụ du lịch của huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2006 - 2011 với các dữ liệu cụ thể (hơn 40 cơ sở lưu trú nhưng chỉ có 1 khách sạn 2 sao, gần 20 nhà hàng quy mô 100 - 300 khách, thực trạng nhân lực chủ yếu ở trình độ trung cấp).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng: Đưa ra 8 nhóm giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Thủy Nguyên trong giai đoạn 2011 - 2015, nhấn mạnh vào việc gắn kết du lịch văn hóa - tâm linh với du lịch sinh thái hồ sông Giá và bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể quý hiếm (hát Đúm Tổng Phục, ca trù Đông Môn).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp do Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thủy Nguyên cung cấp; chưa thực hiện được các cuộc điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn về mức độ hài lòng hoặc cơ cấu chi tiêu thực tế của du khách. Các giải pháp đề xuất dừng lại ở mức định hướng khung chính sách của ngành văn hóa - du lịch, chưa đi sâu vào việc lập dự toán kinh phí chi tiết hay thiết kế quy hoạch phân khu chức năng cho từng điểm du lịch cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội sau giai đoạn 2015; khảo sát lượng khách và luồng khách thực tế theo mùa vụ; xây dựng các tour du lịch liên kết cụ thể giữa Thủy Nguyên với quần thể danh thắng Tràng An, Cát Bà, vịnh Hạ Long; nghiên cứu mô hình quản lý du lịch cộng đồng tại các làng nghề truyền thống (làng cau Cao Nhân, làng rèn Mỹ Đồng).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và giảng viên: Phù hợp cho công tác học tập, giảng dạy thuộc các ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học, Địa lý Du lịch khi nghiên cứu về tiềm năng và phương pháp xây dựng giải pháp phát triển du lịch cấp huyện/địa phương ven biển.
  • Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch địa phương: Cung cấp tài liệu tổng kiểm kê chi tiết về hệ thống di tích lịch sử, lễ hội dân gian, danh lam thắng cảnh và làng nghề truyền thống của huyện Thủy Nguyên, phục vụ công tác quy hoạch và xây dựng đề án xúc tiến du lịch.
  • Phần có giá trị tham khảo cao nhất: Chương 2 của luận văn, đặc biệt là hệ thống 4 bảng dữ liệu thống kê chi tiết về tài nguyên tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, lễ hội dân gian và các tư liệu điền dã về nghệ thuật hát Đúm, ca trù làng Đông Môn.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa danh Thủy Nguyên có nguồn gốc và sự thay đổi tên gọi như thế nào trong lịch sử?
Theo văn bản khóa luận, vùng đất Thủy Nguyên xưa kia có tên gọi là Thủy Đường. Đến năm 1886, do kiêng tên húy của vua Đồng Khánh (Nguyễn Phúc Ưng Đường), địa phương đã chính thức được đổi tên thành Thủy Nguyên.

2. Công trình kiến trúc cổ nhất của huyện Thủy Nguyên được ghi nhận trong nghiên cứu là công trình nào và có niên đại ra sao?
Công trình kiến trúc cổ nhất của huyện Thủy Nguyên được ghi nhận là Đình Kiền Bái (tại xã Kiền Bái). Đình được xây dựng từ cuối thế kỷ 17, với các dòng chữ khắc trên cột cái và vì xà chính ghi rõ năm tạo dựng là 1681 dưới thời Lê. Đình thờ hai vị thành hoàng là anh em sinh đôi có thần hiệu Trung Quốc Cảm Ứng thượng đẳng thần và Lôi Công Uy Diệu thượng đẳng thần.

3. Nghiên cứu ghi nhận những nét độc đáo nào về nghệ thuật hát Đúm và Ca trù tại huyện Thủy Nguyên?
Khóa luận ghi nhận hát Đúm là hình thức đối đáp giao duyên nam nữ cổ xưa của vùng Tổng Phục (gồm các xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ), sử dụng thể thơ lục bát, song thất lục bát và gắn liền với lễ hội mở mặt của các thiếu nữ đầu xuân. Trong khi đó, làng Đông Môn (xã Hòa Bình) được xác định là cái nôi ca trù vùng duyên hải Hải Phòng, bắt nguồn từ đào nương Phạm Thị Sang (thứ phi chúa Trịnh) về truyền dạy và nghệ nhân Tô Tiến Trọng phát triển thành giáo phường của các dòng họ Tô, Phạm, Nguyễn.

4. Thực trạng cơ sở vật chất lưu trú của huyện Thủy Nguyên tại thời điểm khảo sát năm 2011 được tác giả đánh giá ra sao?
Tại thời điểm nghiên cứu, toàn huyện Thủy Nguyên có trên 40 cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú (như các khách sạn Hoa Thị, Quỳnh Trang, Hòa Bình, Đồng Cau, City View). Tuy nhiên, ngoài khách sạn City View đạt tiêu chuẩn xếp hạng 2 sao, hầu hết các cơ sở còn lại đều có quy mô vừa và nhỏ, chất lượng phục vụ hạn chế, chỉ cung cấp dịch vụ lưu trú đơn thuần và thiếu các dịch vụ bổ trợ cao cấp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Vân là công trình nghiên cứu hệ thống về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) giai đoạn trước năm 2011. Bằng việc tổng hợp số liệu địa phương và khảo cứu thực địa, tác giả đã làm nổi bật nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú (núi karst, hồ sông Giá) cùng kho tàng di sản nhân văn giá trị (chiến thắng Bạch Đằng, hát Đúm, ca trù Đông Môn, hệ thống di tích và làng nghề). Khóa luận đã đề xuất thành công 8 nhóm giải pháp mang tính đồng bộ và thiết thực nhằm đẩy mạnh phát triển ngành du lịch huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2011 - 2015.