Tổng quan nghiên cứu

Khu du lịch Hồ Hòa Bình sở hữu diện tích mặt nước rộng lớn khoảng 8.000 ha cùng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với hàng trăm hòn đảo nổi, tạo tiền đề lý tưởng để phát triển hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng và trải nghiệm văn hóa. Mặc dù lượng khách du lịch đến địa bàn duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng đạt 23,4%/năm trong giai đoạn 2011 - 2017, đóng góp kinh tế của khu du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Năm 2017, tổng thu từ khách du lịch tại Khu du lịch Hồ Hòa Bình chỉ đạt 123,7 tỷ đồng, chiếm khiêm tốn 10,17% tổng thu du lịch toàn tỉnh Hòa Bình. Thực trạng khai thác còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: cơ sở hạ tầng thiếu tính kết nối đồng bộ, sản phẩm du lịch nghèo nàn, chủ yếu tập trung vào hoạt động tâm linh ngắn ngày với mức chi tiêu thấp và thời gian lưu trú ngắn.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện tiềm năng, hiện trạng khai thác và nhận diện các yếu tố cản trở sự phát triển du lịch tại vùng hồ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm hiện thực hóa Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 01/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Hồ Hòa Bình đến năm 2030. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát diện tích 52.200 ha thuộc địa giới hành chính của thành phố Hòa Bình và 4 huyện: Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu, trong đó tập trung vào phân vùng lõi quy hoạch khoảng 1.200 ha. Đề tài sử dụng dữ liệu thống kê giai đoạn 2015 - 2017 kết hợp điều tra thực tế năm 2017 - 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao thu nhập bình quân đầu người khu vực lòng hồ từ mức 27,3 triệu đồng/năm (năm 2016) tiệm cận mặt bằng chung của tỉnh, tạo đòn bẩy thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng tổng hợp lý thuyết kinh tế du lịch và nguyên lý phát triển du lịch sinh thái bền vững. Du lịch được tiếp cận theo Luật Du lịch và chuẩn mực của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), khẳng định đây là ngành kinh tế tổng hợp với 80% đến 90% giá trị nằm ở yếu tố dịch vụ phi vật chất. Sản phẩm du lịch hồ mang tính đặc thù cao, được định hình bởi sự kết hợp giữa tài nguyên cảnh quan mặt nước, địa hình núi đá vôi và không gian văn hóa bản địa của 6 dân tộc chính (Mường, Thái, Kinh, Tày, Dao, Mông).

Cấu trúc không gian phát triển du lịch hồ được phân chia thành 3 phân vùng chức năng cốt lõi: khu vực bờ và mép nước (nơi thiết lập hạ tầng lưu trú, bến cảng, nhà hàng), khu vực mặt nước và các đảo (không gian tổ chức thể thao dưới nước, thưởng ngoạn, trải nghiệm sinh thái), và khu vực dưới mặt nước (phục vụ khám phá, nghiên cứu khoa học). Tác giả đã phân tích các bài học kinh nghiệm quốc tế như mô hình bảo tồn cảnh quan gắn với nghỉ dưỡng cao cấp tại Hồ Louise (Canada), tuyến cảnh quan đô thị nước River Walk tại San Antonio (Hoa Kỳ), và mô hình khai thác sinh thái Hồ Ngũ Hoa Hải (Trung Quốc). Đồng thời, các bài học trong nước từ Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) với hơn 100 tàu lưu trú cao cấp và Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) có diện tích mặt nước 2.500 ha được đối sánh để đúc rút mô hình quản trị phù hợp cho Hồ Hòa Bình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2017 từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình, Tổng cục Du lịch với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua 3 đợt khảo sát thực địa trong năm 2017 (tháng 2 dịp lễ hội Đền Bờ, tháng 8 mùa cao điểm hè, và tháng 12 mùa lễ hội cuối năm). Khảo sát xã hội học được triển khai với quy mô mẫu gồm 260 phiếu điều tra, phân bổ cân đối cho các nhóm chủ thể: 105 khách du lịch, 105 hộ dân bản địa tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ, 5 doanh nghiệp lữ hành, 21 cán bộ cấp Sở/ngành, 12 cán bộ cấp huyện/thành phố và 12 cán bộ quản lý cấp xã.

Địa bàn khảo sát tập trung tại 3 điểm du lịch trọng điểm đại diện cho các loại hình dịch vụ khác nhau: Đền Bờ (du lịch tâm linh), Công viên nước Ngòi Hoa (vui chơi giải trí mặt nước) và Bản Giang Mỗ (du lịch cộng đồng dân tộc Mường). Tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện nhằm phản ánh đa chiều góc nhìn cung - cầu. Các công cụ xử lý dữ liệu bao gồm thống kê mô tả (tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai), phương pháp so sánh chuỗi thời gian, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và phương pháp dự báo xu hướng kinh tế. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này đảm bảo tính khách quan, đo lường chính xác các chỉ tiêu về chi tiêu, mức độ hài lòng và năng lực đáp ứng của hệ thống dịch vụ công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch đến Khu du lịch Hồ Hòa Bình ghi nhận đà tăng trưởng liên tục từ 197.000 lượt (năm 2010) lên 409.500 lượt (năm 2015) và đạt 540.000 lượt (năm 2016). Tuy nhiên, cơ cấu luồng khách bộc lộ sự mất cân đối lớn khi khách nội địa chiếm trên 95% tổng lượng khách (515.000 lượt khách nội địa so với 25.000 lượt khách quốc tế vào năm 2016). Xu hướng tham quan chủ yếu là du lịch tâm linh đi về trong ngày, dẫn đến thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt khoảng 1,1 đến 1,3 ngày/khách.

Thứ hai, hiệu quả kinh tế từ hoạt động du lịch còn rất khiêm tốn. Năm 2016, tổng thu nhập từ du lịch của toàn tỉnh Hòa Bình đạt 1.038,3 tỷ đồng, nhưng vùng lõi Hồ Hòa Bình chỉ đóng góp 80 tỷ đồng, chiếm 7,7%. Mặc dù năm 2017 doanh thu tăng lên 123,7 tỷ đồng (chiếm 10,17% toàn tỉnh), mức chi tiêu bình quân của du khách vẫn ở mức thấp, dao động từ 350.000 đến 600.000 đồng/khách/ngày do thiếu các dịch vụ bổ trợ, khu mua sắm đặc sản tập trung và dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp.

Thứ ba, điểm nghẽn về hạ tầng kỹ thuật và chất lượng nhân lực là rào cản lớn nhất. Toàn khu vực có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đạt khoảng 60% (khoảng 198.000 người trên tổng số 330.000 dân năm 2017), nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn du lịch chỉ đạt 35%. Hệ thống bến cảng thủy nội địa như cảng Bích Hạ, cảng Thung Nai thiếu trang thiết bị hiện đại; mạng lưới đường giao thông kết nối các xã ven hồ có độ dốc trung bình trên 30 độ, gây khó khăn cho việc vận chuyển khách mùa mưa lũ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng doanh thu thấp và thời gian lưu trú ngắn bắt nguồn từ sự thiếu hụt các sản phẩm kinh tế đêm, dịch vụ nghỉ dưỡng nổi trên mặt nước và chuỗi hoạt động thể thao mạo hiểm. Các dữ liệu khảo sát được tổng hợp trực quan qua các biểu đồ phân bố mục đích chuyến đi và bảng thống kê cơ cấu chi tiêu của khách du lịch, chỉ rõ rằng hơn 65% du khách chỉ tập trung vào tuyến Đền Thác Bờ trong các tháng đầu năm rồi giảm mạnh vào các mùa khác.

So sánh với mô hình du lịch lòng hồ quốc tế, Hồ Louise duy trì được giá trị sinh thái nguyên bản nhờ kiểm soát mật độ xây dựng và quy chuẩn bảo vệ nguồn nước khắt khe. Ngược lại, tại Hồ Hòa Bình, công tác thu gom và xử lý rác thải, nước thải từ các tàu thuyền du lịch và nhà nổi còn mang tính tự phát, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước cấp cho hạ lưu sông Đà và thủ đô Hà Nội. Sự phối hợp liên ngành giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy và chính quyền 4 huyện chưa tạo thành cơ chế quản lý tích hợp một cửa, làm giảm tính hấp dẫn trong môi trường thu hút đầu tư tư nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch chi tiết và phân khu chức năng theo định hướng thị trường. UBND tỉnh Hòa Bình và Sở Xây dựng cần nhanh chóng rà soát, lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 cho vùng lõi 1.200 ha giai đoạn 2020 - 2030, phân định rõ khu bảo tồn sinh thái nghiêm ngặt, khu nghỉ dưỡng cao cấp và cụm du lịch cộng đồng nhằm bảo đảm tiêu chí Khu du lịch quốc gia theo Quyết định 1528/QĐ-TTg.

Thứ hai, tập trung nguồn vốn đầu tư công nâng cấp hạ tầng kết nối then chốt. Sở Giao thông vận tải cần ưu tiên nâng cấp mở rộng tuyến tỉnh lộ 435, xây dựng mới hệ thống bến cập tàu đạt chuẩn quốc tế tại cảng Thung Nai và vịnh Ngòi Hoa, phấn đấu nâng năng lực tiếp nhận du thuyền du lịch lên trên 1 triệu lượt khách/năm vào năm 2025. Đồng thời, triển khai hệ thống phao tiêu biển báo và trạm cứu hộ tự động trên 151 km luồng tuyến sông Đà.

Thứ ba, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù gắn với bản sắc văn hóa Mường. Khuyến khích các doanh nghiệp lữ hành phát triển mô hình du thuyền nghỉ đêm trên hồ (tương tự Vịnh Hạ Long), xây dựng cụm thể thao mặt nước (chèo thuyền kayak, cano lướt sóng) tại vịnh Ngòi Hoa và phục dựng không gian nhà sàn truyền thống tại Bản Giang Mỗ, Bản Ké. Đẩy mạnh phát triển kinh tế đêm thông qua chợ nổi sinh thái và chuỗi ẩm thực cá lòng hồ, cam Cao Phong.

Thứ tư, chuẩn hóa nguồn nhân lực và tối ưu hóa dịch vụ công. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các trường đại học, cao đẳng nghề tổ chức đào tạo nghiệp vụ lưu trú, ngoại ngữ và kỹ năng phục vụ cho 100% hộ dân làm homestay, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo du lịch từ 35% lên trên 60% vào năm 2025. Thiết lập cổng thông tin điện tử một cửa hỗ trợ cấp phép đầu tư, quản lý an ninh trật tự và cung cấp dữ liệu tour tuyến trực tuyến cho du khách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo UBND tỉnh Hòa Bình, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, cùng chính quyền thành phố Hòa Bình và các huyện Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu có thể sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng đề án phân bổ ngân sách, hoàn thiện quy chế quản lý bảo tồn tài nguyên lòng hồ và triển khai các chính sách ưu đãi đầu tư du lịch giai đoạn 2020 - 2030.

Nhóm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và nhà đầu tư: Các tập đoàn phát triển bất động sản nghỉ dưỡng sinh thái, công ty lữ hành đường thủy tìm thấy trong công trình những phân tích chi tiết về dung lượng thị trường, hành vi chi tiêu của 540.000 lượt khách và tiềm năng phát triển các tuyến du lịch mới như Thung Nai - Vịnh Ngòi Hoa - Thác Bờ.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và sinh viên: Giới học thuật thuộc các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Du lịch học và Quản lý tài nguyên môi trường có thể ứng dụng khung phân tích 3 vùng không gian du lịch hồ và bộ công cụ điều tra 260 mẫu thực địa vào các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế sinh thái.

Nhóm cộng đồng cư dân và hợp tác xã du lịch địa phương: Các hộ gia đình đồng bào dân tộc Mường, Thái tại các bản du lịch cộng đồng như Bản Giang Mỗ, Bản Ải, Bản Lác tiếp cận được các khuyến nghị thực tiễn về cách thức cải tạo cảnh quan, giữ gìn phong tục truyền thống và nâng cao thu nhập bền vững từ mô hình homestay chuẩn hóa.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến doanh thu du lịch Hồ Hòa Bình chỉ chiếm hơn 10% tổng thu toàn tỉnh là gì? Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu sản phẩm còn đơn điệu, trên 70% lượng khách đến hồ nhằm mục đích chiêm bái tâm linh tại Đền Thác Bờ trong các tháng đầu năm rồi đi về trong ngày. Cơ sở hạ tầng lưu trú chất lượng cao và các dịch vụ bổ trợ như giải trí đêm, thể thao nước còn thiếu vắng, khiến mức chi tiêu bình quân của khách đạt dưới 600.000 đồng/ngày.

Căn cứ pháp lý quan trọng nhất định hướng phát triển Khu du lịch Hồ Hòa Bình là văn bản nào? Căn cứ mang tính chiến lược cao nhất là Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 01/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Hồ Hòa Bình đến năm 2030. Văn bản này định vị hồ là trọng điểm du lịch quốc gia với quy mô vùng lõi tập trung khoảng 1.200 ha.

Quy mô mẫu và phương pháp khảo sát thực địa trong luận văn được thực hiện như thế nào? Luận văn đã triển khai điều tra xã hội học trực tiếp với tổng quy mô 260 phiếu hỏi qua 3 đợt thực địa năm 2017. Mẫu khảo sát bao gồm 105 du khách, 105 người dân bản địa, 5 doanh nghiệp lữ hành và 45 cán bộ quản lý các cấp từ tỉnh đến xã tại 3 điểm trọng tâm: Đền Bờ, Công viên nước Ngòi Hoa và Bản Giang Mỗ.

Làm thế nào để kéo dài thời gian lưu trú của du khách tại vùng lòng hồ Hòa Bình? Giải pháp đột phá là phát triển các sản phẩm du lịch trải nghiệm đêm, bao gồm mô hình tàu du lịch lưu trú nghỉ đêm trên hồ (tương tự Vịnh Hạ Long), tổ chức chợ đêm giao lưu văn hóa Mường tại các bản làng ven hồ và khai thác tour thể thao mạo hiểm chèo kayak, cắm trại trên các đảo nổi.

Bài học nào từ kinh nghiệm quốc tế có thể áp dụng hiệu quả cho Hồ Hòa Bình? Bài học cốt lõi từ Hồ Louise (Canada) là phát triển du lịch nghỉ dưỡng phân khúc cao cấp nhưng phải gắn liền với quy chuẩn nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường sinh thái. Mọi phương tiện thủy và nhà nổi trên Hồ Hòa Bình cần được trang bị hệ thống xử lý chất thải khép kín để bảo vệ tuyệt đối nguồn nước sạch sông Đà.

Kết luận

Nghiên cứu khẳng định tiềm năng to lớn của 8.000 ha mặt nước Hồ Hòa Bình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình và vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Hệ thống hóa toàn diện lý luận về kinh tế du lịch hồ và xác lập cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy thông qua bộ chỉ tiêu đánh giá 260 mẫu khảo sát thực địa tại các điểm đến trọng điểm.

Chỉ rõ những điểm nghẽn về hạ tầng thiếu đồng bộ, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (35%) và đóng góp doanh thu chưa tương xứng (123,7 tỷ đồng năm 2017).

Đề xuất khung giải pháp đồng bộ 4 nhóm chính sách: quy hoạch thị trường vùng lõi 1.200 ha, nâng cấp hạ tầng bến thủy, đa dạng hóa sản phẩm văn hóa Mường và chuẩn hóa nguồn nhân lực đến năm 2030.

Lộ trình ưu tiên giai đoạn 2020 - 2025 cần tập trung hoàn thiện tuyến giao thông huyết mạch tỉnh lộ 435 và quy chế bảo vệ môi trường nước.

Các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư hãy khai thác ngay nguồn cơ sở dữ liệu chi tiết cùng các khuyến nghị trong luận văn để hiện thực hóa mục tiêu đưa Hồ Hòa Bình trở thành Khu du lịch quốc gia đẳng cấp quốc tế.