Chương 1. Những cơ sở lý luận về phát triển du lịch Chương 2. Thực trạng phát triển du lịch Hà Nội. Định hướng và biện pháp phát triển du lịch Hà Nội.
7 CHƢƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Tổng quan về du lịch 1. Khái niệm về du lịch. Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, muốn có hiểu biết về cảnh quan, địa hình, hệ động, thực vật và nền văn hoá của những nơi khác.
Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiện tượng khá quan trọng trong đời sống của con người. Đến nay, du lịch không còn là một hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của cá nhân hay của một nhóm người nào đó mà du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người. Tuy nhiên, khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau. Sau đây là một số quan niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến.1 Tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người.
Du lịch là một hiện tượng: Trước thế kỷ XIX, đến tận đầu thế kỷ XX du lịch hầu như vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giầu có và người ta chỉ coi đây như là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế - xã hội. Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được. Các giáo sư Thụy Sỹ là Huziker và Krapf đã khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ việc đi lại và lưu trú của người ngoài địa phương - những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào. Với quan niệm du lịch này mới chỉ được giải thích ở hiện tượng đi du lịch.
Tuy nhiên đây cũng là một khái niệm làm cơ sở để xác định người đi du lịch và là cơ sở hình thành cầu về du lịch sau này. 8 Du lịch là một hoạt động: Theo Mill và Morrison, du lịch là một hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới (một nước, hay ranh giới một vùng, một lĩnh vực) để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm. Như vậy có thể xem xét du lịch thông qua những hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi. Du lịch có thể được hiểu là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.
Du lịch dưới góc độ là khách du lịch. Một quan niệm khác xem xét khái niệm và bản chất của du lịch dưới góc độ người đi du lịch. Theo cách tiếp cận này, nhà kinh tế học người Anh, Ogilvie quan niệm khách du lịch là tất cả những người thỏa mãn điều kiện rời khỏi nơi ở thường xuyên trong một khoảng thời gian dưới một năm và chỉ tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó". Khái niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được mục đích của người đi du lịch và qua đó để phân biệt được với những người cũng rời khỏi nơi cư trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch.
Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Rome (1963) thống nhất quan điểm về khách du lịch ở hai phạm vi quốc tế và nội địa, sau này Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) chính thức thừa nhận như sau: Khách du lịch quốc tế: là một người lưu trú ít nhất một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú, với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến. Khách du lịch nội địa: là một người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó, trong thời gian ít nhất là 24 giờ và không quá 1 năm với các mục đích có thể là giải trí, công vụ, hội họp, thăm gia đình ngoài hoạt động làm việc để tính lương ở nơi đến. 9 Quán triệt quan điểm của Tổ chức du lịch thế giới, trong Pháp lệnh du lịch của Việt nam có quy định: Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Tiếp cận du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế Cùng với sự phát triển của xã hội, du lịch phát triển từ hiện tượng có tính đơn lẻ của một bộ phận nhỏ trong dân cư thành hiện tượng có tính phổ biến và ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội.
Lúc đầu, người đi du lịch thường tự thoả mãn các nhu cầu trong chuyến đi của mình. Về sau, các nhu cầu đi lại, ăn ở, giải trí…của khách du lịch đã trở thành một cơ hội kinh doanh và du lịch lúc này được quan niệm là một hoạt động kinh tế nhằm thoả mãn các nhu cầu của du khách. Một ngành kinh doanh được hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người trong chuyến đi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên - đó là ngành du lịch. Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũng đi đến thống nhất cần phải quan niệm rộng rãi ngành du lịch như là người đại diện cho tập hợp các hoạt động công nghiệp và thương mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hoá và dịch vụ cho tiêu dùng của khách du lịch quốc tế và nội địa.
Như vậy, khi tiếp cận du lịch với tư cách là một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết trong các hành trình du lịch thì du lịch được hiểu là một ngành kinh tế cung ứng các hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị các tài nguyên du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du khách. Tiếp cận du lịch một cách tổng hợp. Các quan niệm đều tiếp cận du lịch dưới góc độ một hiện tượng, một hoạt động với các yếu tố tách biệt. Với cố gắng xem xét du lịch một cách toàn diện hơn các tác giả Mcintosh và Goeldner cho rằng cần phải cân nhắc tất cả các chủ 10 thể(thành phần) tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ.
Các chủ thể đó bao gồm: Khách du lịch: Đây là những người tìm kiếm các kinh nghiệm và sự thoả mãn về vật chất hay tinh thần khác nhau. Bản chất của du khách sẽ xác định các nơi đến du lịch lựa chọn và các hoạt động tham gia, thưởng thức Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch : Các nhà kinh doanh coi du lịch là một cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường khách du lịch. Chính quyền sở tại: Những người lãnh đạo chính quyền địa phương nhìn nhận du lịch như là một nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển vọng về thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của dân địa phương, ngoại tệ thu được từ khách quốc tế và tiền thực thu được cho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Dân cư địa phương: Dân cư địa phương thường coi du lịch là một nhân tố tạo ra việc làm và giao lưu văn hoá.
Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là ở đây là hiệu quả của sự giao lưu giữa số lượng lớn du khách quốc tế và dân cư địa phương. Hiệu quả này có thể vừa có lợi và vừa có hại. Như vậy, để phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện các hoạt động, các mối quan hệ của du lịch, theo cách tiếp cận này, du lịch được hiểu là tổng hợp các biện pháp và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình đón tiếp khách du lịch. Với cách tiếp cận này, khách du lịch là nhân vật trung tâm làm nảy sinh các hoạt động và các mối quan hệ để trên cơ sở đó thoả mãn mục đích của các chủ thể tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ đó.
Tóm lại, du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận xuất phát từ tính chất phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch. Chính vì vậy, tuỳ thuộc vào từng mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng các quan niệm đó một cách phù hợp. Thể loại du lịch Căn cứ vào mục đích chuyến đi Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch của con người. Do đó, cách phân loại này còn được gọi là căn cứ vào động cơ, căn cứ vào nhu cầu.
Gồm có: Du lịch thiên nhiên, Du lịch văn hoá, Du lịch lễ hội, Du lịch hoạt động, Du lịch giải trí, Du lịch thể thao, Du lịch chuyên đề, Du lịch tôn giáo, Du lịch sức khỏe, Du lịch dân tộc học. Để đơn giản hoá và hệ thống hoá có tác giả phân các thể loại du lịch theo mục đích chuyến đi làm hai nhóm chính: Nhóm có mục đích du lịch thuần tuý: bao gồm các thể loại du lịch tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao(chơi, tập luyện. Nhóm có mục đích kết hợp du lịch: bao gồm các thể loại du lịch tín ngưỡng. học tập nghiên cứu, hội họp, thể thao (thi đấu.
cổ vũ), kinh doanh, công tác, chữa bệnh, thăm thân. Mặc dù mỗi thể loại du lịch có những đặc trưng riêng, nhưng trong thực tế thường không thể hiện nguyên một dạng mà có thể kết hợp một vài thể loại du lịch với nhau trong cùng một chuyến đi.