Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển DNNVV. Chương 2: Thực trạng phát triển DNNVV tại thành phố Hải Phòng Chương 3: Một số giải pháp phát triển DNNVV tại thành phố Hải Phòng 8 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm, tiêu chí xác định, phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia Đối với sự phát triển của một quốc gia thì sự tồn tại và phát triển của DNNVV là điều vô cùng quan trọng, là yếu tố cũng như thành phần không thể thiếu của nền kinh tế. Việc tồn tại và phát triển của các DNNVV này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xoay quanh một quốc gia như tính chất ngành nghề, trình độ, điều kiện thuận lợi để phát triển của một vùng, lãnh thổ nhất định, … hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định.
Việc xác định một doanh nghiệp là DNNVV trên thế giới chủ yếu dựa trên nhóm tiêu chí định tính và nhóm tiêu chí định lượng. Đối với nhóm tiêu chí định tính, đây là nhóm tiêu chí được dựa trên các đặc trưng cơ bản của DNNVV như mức độ phức tạp của quản lý thấp, trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, … Mặc dù các tiêu chí định tính này phản ánh đúng bản chất của nó, tuy nhiên thì trên thực tế lại khó có thể xác định được. Do đó mà các tiêu chí này thường chỉ được sử dụng như nguồn tham khảo hay kiểm chứng, ít được sử dụng để xác định quy mô của doanh nghiệp trong thực tế. Đối với nhóm tiêu chí định lượng, nhóm tiêu chí này được xây dựng trên các tiêu chí về tổng tài sản, nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận, số lao động bình quân của một doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia khác nhau lại áp dụng các tiêu chí này không giống nhau, có quốc gia chỉ căn cứ vào số lao động hay tiêu chí về vốn kinh doanh, nhưng có quốc gia lại căn cứ vào tất cả các tiêu chí này. Các tiêu chí xác định DNNVV ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có sự khác nhau. Hơn nữa, các tiêu chí này không cố định mà có sự thay đổi tùy thuộc vào ngành nghề, trình độ phát triển của từng giai đoạn, thời kỳ. Sự khác biệt ở mỗi quốc gia trong khái niệm DNNVV là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hóa các chỉ tiêu này thông qua các 9 tiêu chuẩn cụ thể.
Các tiêu chí đánh giá chung thường được các quốc gia sử dụng như số lượng lao động, nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận. Tiêu chí số lượng lao động và nguồn vốn thường phản ánh quy mô cũng như các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Còn đối với các tiêu chí như doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng lại thể hiện đánh giá quy mô của kết quả đầu ra. Với mỗi tiêu chí đánh giá sẽ thể hiện những mặt tích cực cùng hạn chế riêng.
Do đó mà việc phân loại DNNVV có thể dựa trên các yếu tố đầu vào, các yếu tố đầu ra hoặc có sự kết hợp của cả yếu tố đầu vào cũng như yếu tố đầu ra của doanh nghiệp. Ví dụ như tại EU, các tiêu chí để xác định DNNVV được căn cứ dựa trên yếu tố như số lượng nhân viên, doanh thu hoặc tổng tài sản của doanh nghiệp.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở EU Doanh nghiệp Tiêu chí phân loại Đơn vị tính Doanh nghiệp nhỏ vừa Số lượng lao động tối Người 50 250 đa Doanh thu Triệu EURO 10 50 Tổng tài sản Triệu EURO 10 43 (Nguồn: SME definition, www.com) Tại Hoa Kỳ, các tiêu chí phân loại doanh nghiệp căn cứ trên số lượng tài sản sở hữu, số lượng nhân viên, thu nhập và có sự khác biệt giữa các ngành theo Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (SBA). Ví dụ trong lĩnh vực sản xuất thì một công ty có từ 500 nhân viên trở xuống được coi là một doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngược lại, đối với các công ty khai thác quặng đồng và niken thì số lượng nhân viên lên tới 1500 lao động vẫn được xác định là một doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cũng giống như EU thì Hoa Kỳ phân loại rõ các công ty có số lượng nhân viên nhỏ hơn 10 thì được coi là các văn phòng nhỏ hay văn phòng tại nhà. Còn khi nói đến báo cáo thuế, Sở thuế vụ (IRS) thì sẽ không có sự phân nhóm doanh nghiệp 10 thành DNNVV mà tách các doanh nghiệp nhỏ và các cá nhân tự kinh doanh thành một nhóm và các doanh nghiệp có quy mô từ vừa đến lớn thành một nhóm. Sở Thuế vụ phân loại các công ty có tài sản sở hữu từ 10 triệu đô la trở xuống là các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp lớn sẽ có tổng tài sản sở hữu trên 10 triệu đô la. Tại Nhật Bản, các tiêu chí xác định DNNVV dựa trên các chỉ tiêu về vốn và số lượng nhân viên trên các lĩnh vực sản xuất, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ được thể hiện rõ tại Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Nhật Bản Ngành Sản xuất Bán buôn Bán lẻ Dịch vụ Chỉ số Vốn (triệu JY) Tới 300 Tới 100 Tới 50 Tới 50 Số nhân viên Tới 300 Tới 100 Tới 50 Tới 100 (người) (Nguồn: Đại học SME Tokyo, 2008) Trong khái niệm DNNVV của Nhật Bản thì chỉ xác định hai chỉ tiêu là vốn và số lượng lao động.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ thì Nhật Bản có quan niệm gần giống với Hàn Quốc, tiêu thức lao động thấp so với khu vực châu Á. Do vậy mà các nước có tiềm lực về kinh tế mạnh, nhưng có nguồn lao động, nhân lực hạn chế thì họ quan tâm đến vốn đầu tư nhiều hơn. Tại Hàn Quốc, việc xác định các DNNVV dựa trên Đạo luật khung về Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các DNNVV được xác định trên các tiêu chuẩn về quy mô và tính độc lập.
Doanh nghiệp có số lao động toàn thời gian lớn hơn 1000 lao động hoặc có tổng tài sản trên 500 tỷ won sẽ bị loại khỏi danh sách DNNVV. Các tiêu chuẩn về quy mô để xác định DNNVV còn phụ thuộc vào từng ngành cụ thể như sau: Ngành Sản xuất: nhân viên dưới 300 lao động hoặc số vốn ít hơn 8 tỷ won. Ngành Khai thác, xây dựng và vận tải: dưới 300 lao động hoặc có số vốn ít hơn 3 tỷ won. Ngành Kinh doanh, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ: có số nhân viên từ 50 đến 300 11 người và tổng doanh thu từ 5 đến 30 tỷ won.
Đối với tiêu chuẩn độc lập quản lý quyền sở hữu, mặc dù đáp ứng tiêu chuẩn về quy mô nhưng cũng sẽ không được coi là DNNVV nếu: Hơn 30% tổng số cổ phiếu phát hành của DNNVV thuộc sở hữu của một công ty lớn hơn có tổng tài sản trên 500 tỷ won, hoặc DNNVV thuộc nhóm doanh nghiệp hạn chế việc sở hữu cổ phần đối ứng trực tiếp. Doanh nghiệp nhỏ thì được xác định bởi các tiêu chí như sau: Khai thác, sản xuất, xây dựng, vận tải: số lượng nhân viên chính thức dưới 50 người. Kinh doanh, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ: dưới 10 nhân viên toàn thời gian. Tại Trung Quốc, định nghĩa về DNNVV rất phức tạp, phụ thuộc vào loại ngành, số lượng nhân viên, doanh thu hàng năm và tổng tài sản, nguồn vốn và được quy định trong Luật khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc và được đưa ra hướng dẫn phân loại DNNVV năm 2003.3: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc Ngành Tiêu chí Sản xuất Bán buôn Bán lẻ Dịch vụ Loại DN Lao động 20 - 300 5 - 20 10 - 50 10 - 100 Doanh (người) nghiệp nhỏ Nguồn vốn 3 - 20 10 - 50 1-5 0.5 - 10 (triệu RMB) Lao động 300 – 20 – 200 50 – 300 100 - 300 Doanh (người) 1000 nghiệp vừa Nguồn vốn 20 - 400 50 – 400 5 - 200 10 - 100 (triệu RMB) (Nguồn: Ministry of Industry and Information Technology (MIIT), National Buraeau of Statistics, National Development and Reform Commission, Ministry of Finance, China) 12 Tại Thái Lan, định nghĩa về DNNVV được thể hiện tại bảng sau: Bảng 1.4: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thái Lan Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lƣợng Số lƣợng Loại Tài sản cố định Tài sản cố định nhân viên nhân viên (triệu THB) (triệu THB) (ngƣời) (ngƣời) Sản xuất – Không quá 50 Không quá 50 51 – 200 51 – 200 chế tạo Bán buôn Không quá 25 Không quá 50 26 – 60 51 – 100 Bán lẻ Không quá 15 Không quá 30 16 – 30 31 – 60 Dịch vụ Không quá 50 Không quá 50 51 - 200 51 - 200 (Nguồn: Lê Thế Phiệt 2016, tr.23) Định nghĩa DNNVV theo quy định tạo Đài Loan được xác định trong từng ngành nghề cụ thể như: Đối với ngành chế tạo, khai mỏ, xây dựng thì các DNNVV có số vốn hoạt động dưới 80 triệu tân đài tệ (TWD) hoặc có số nhân viên dưới 200 người.
Trong các ngành như vận chuyển, thương mại và các ngành khác thì doanh nghiệp có doanh thu dưới 100 triệu TWD hoặc số người lao động 50 người thì được coi là DNNVV. Tại Singapore thì định nghĩa DNNVV được dựa trên tiêu chí doanh thu bán hàng hàng năm của doanh nghiệp. Với những công ty có doanh thu lớn hơn 1 triệu đô la Singapore (SGD) và nhỏ hơn 10 triệu SGD thì được coi là doanh nghiệp nhỏ. Còn đối với các công ty có doanh thu từ 10 đến 100 triệu SGD được coi là doanh nghiệp vừa.
Tại Malaysia thì định nghĩa DNNVV được định nghĩa theo tiêu chí doanh thu bán hàng hằng năm hoặc tiêu chí nhân viên toàn thời gian. Tuy nhiên đối với các ngành, lĩnh vực khác nhau có sự định nghĩa khác nhau. Đối với các tổ chức tài chính thì Ngân hàng Trung ương Malaysia đã sửa đổi định nghĩa DNNVV thông qua thông báo được phát hành ngày 27 tháng 12 năm 2017 như sau: Ngành sản xuất 13 thì doanh thu bán hàng không được quá 50 triệu RM, hoặc nhân viên toàn thời gian không được quá 200 người; Ngành dịch vụ và các lĩnh vực khác thì doanh thu bán hàng không quá 20 triệu RM hoặc số công nhân toàn thời gian không quá 75 người.