CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN NỘI ĐỊA 1.1 Tổng quan về hoạt động bao thanh toán và bao thanh toán nội địa 1.1 Khái niệm bao thanh toán Khi hoạt động thương mại giữa người bán và người mua hàng hóa được thực hiện trên lãnh thổ một quốc gia, có thể thấy thường phát sinh các khoản mua bán trả chậm. Một lý do giải thích cho sự tồn tại của khoản trả chậm này là người bán cần có người mua và người bán chấp nhận để người mua chiếm dụng vốn mà mình phải trả lãi trong một thời gian nhất định trong khi người bán cũng rất cần vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vấn đề phát sinh liên quan đến khoản nợ trả chậm này là người bán cần thẩm định năng lực tài chính của người mua để đánh giá khả năng trả nợ của người mua và tốn chi phí để thuê nhân viên theo dõi các khoản nợ của người mua, đôn đốc để thu hồi nợ từ người mua. Việc làm này người bán không thể chuyên nghiệp bằng các đơn vị tài chính.
Vì vậy, người bán cần tiếp cận đến sản phẩm bao thanh toán (BTT) nội địa từ các đơn vị tài chính nhằm lựa chọn người mua có khả năng trả nợ tốt. Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế hoạt động BTT của các tổ chức tín dụng: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hoá giữa bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hoá”. Theo Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (FCI), bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi nợ và thu hồi nợ. Đó là sự thoả thuận giữa đơn vị bao thanh toán và người bán, trong đó đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán, thường là không truy đòi, đồng thời có trách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả của người mua.
Nếu người mua phá sản hay mất khả năng chi trả vì những lý do tín dụng thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay người mua trả tiền cho người bán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- Ngoài ra, dựa trên quan điểm về luật và kế toán, theo hiệp hội BTT quốc tế, BTT là một dịch vụ dựa vào các khoản phải thu được chuyển nhượng. Các khoản phải thu của người bán hàng sẽ được chuyển nhượng cho đơn vị BTT, do đó tạo ra sự chuyển đổi chủ nợ. Đơn vị BTT sẽ trở thành chủ nợ mới và độc quyền với các khoản phải thu, bao gồm cả các phần phụ thuộc vào khoản phải thu đó.
Trích những quy định chung về hoạt động bao thanh toán quốc tế (General Rules for International Factoring) ấn bản tháng 04/2010 do Hiệp hội bao thanh toán quốc tế ban hành, thì hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng, theo đó nhà cung cấp sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hay một phần của các khoản phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, có thể vì mục đích tài trợ hoặc không, để thực hiện ít nhất một trong các chức năng sau đây: Kế toán sổ sách các khoản phải thu Thu nợ các khoản phải thu Phòng ngừa rủi ro nợ xấu Tài trợ cho người bán, bao gồm việc cho vay lẫn việc ứng trước tiền thanh toán. Theo từ điển thuật ngữ Ngân hàng của nhà biên soạn Hans Klaus thì “Bao thanh toán là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ. Một doanh nghiệp chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng). Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng phí và có lúc ứng trước giá trị của các khoản nợ.
Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ”. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nói một cách đơn giản nhất bao thanh toán được hiểu là sự chuyển nhượng nợ của người mua hàng (con nợ) từ người bán hay cung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ) sang đơn vị bao thanh toán (chủ nợ mới). Đơn vị bao thanh toán đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro không trả nợ hoặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- không có khả năng trả nợ của người mua. Đơn vị bao thanh toán có thể trả trước toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua sau khi trừ đi một khoản hoa hồng tài trợ và phí thu nợ.
Mọi rủi ro không thu được tiền hàng đều do đơn vị bao thanh toán gánh chịu.2 Chức năng của BTT và BTT nội địa Trong ấn bản tháng 4/2010 của Hiệp hội BTT về những quy định chung trong hoạt động BTT quốc tế thì BTT có bốn chức năng: 1.1 Kế toán sổ sách các khoản phải thu Trong dịch vụ BTT, đơn vị BTT theo dõi các khoản phải trả của người mua vào sổ sách của mình. Khi có phát sinh các hóa đơn, giấy nhận nợ hay các khoản người mua phải thanh toán thì đơn vị BTT có thể sẽ gửi sao kê các khoản phải trả cho người mua và người bán cũng được cập nhật đầy đủ về tình trạng sổ sách và hoạt động của người mua.2 Thu nợ các khoản phải thu Điểm khác biệt trong việc thu hồi các khoản phải thu của dịch vụ BTT với dịch vụ chiết khấu hối phiếu được chấp nhận thanh toán là tính tự động thanh toán của người mua. Vì thế, đơn vị BTT thiết lập một hệ thống quản lý khoa học để thu nợ thông qua các thư yêu cầu người mua thanh toán và từ đó các nhân viên của đơn vị BTT có thể thực hiện nghiệp vụ này một cách dễ dàng.3 Phòng ngừa rủi ro nợ xấu Theo thỏa thuận giữa các bên khi sử dụng dịch vụ BTT, đơn vị BTT có thể thanh toán toàn bộ giá trị của khoản phải thu cho người bán khi người mua mất khả năng thanh toán hoặc khoản phải thu đã quá hạn (số ngày quá hạn tùy theo quy định). Đối với hình thức BTT miễn truy đòi thì người bán không phải chịu rủi ro nợ xấu này.4 Tài trợ cho người bán LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- Đối với người bán, nhu cầu vốn lưu động tăng cao khi các khoản phải thu tăng cao.
Khi họ sử dụng dịch vụ BTT, họ có thể được tài trợ lên đến 80% giá trị khoản phải thu ngay khi phát sinh nghiệp vụ bán hàng. Như vậy một phần nhu cầu vốn lưu động của người bán đã thực sự trở thành vốn lưu động để sử dụng cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo.3 Lịch sử hình thành bao thanh toán và bao thanh toán nội địa BTT là một hình thức tài trợ lâu đời nhất trên thế giới. Nhiều tài liệu cổ xưa cho thấy công cụ này xuất hiện từ thế kỷ XVIII trước công nguyên ở Babilon, dưới thời Hammurabi và là một phần của những giao dịch mua bán vải vóc trên con đường tơ lụa xưa kia. Hầu hết các nền văn minh chú trọng thương mại đều tồn tại một hình thức nào đó của BTT, trong đó có nền văn minh La Mã, nơi bán và chiết khấu giấy nợ đầu tiên.
Vào thế kỷ XIV, BTT được sử dụng rộng rãi ở Anh khi nền công nghiệp len sợi phát triển. Các tổ chức BTT lúc này đóng vai trò là đại lý bán hàng, hưởng hoa hồng của các nhà máy sợi. Phương tiện liên lạc chậm chạp đã làm cản trở các giao dịch kinh tế. Tổ chức bao thanh toán thời kỳ này tự quyết định tất cả chẳng hạn như xem xét mặt hàng nào được yêu thích ở khu vực của mình.
Sau đó hàng hoá được chuyên chở trực tiếp đến tổ chức bao thanh toán và tổ chức này nhận mọi rủi ro thu nợ hàng hóa bán chịu trong khu vực. Theo cách đó, tổ chức bao thanh toán như ngày hôm nay, bắt đầu phát triển và được biết đến. Trong hệ thống này, các tổ chức bao thanh toán đảm nhiệm nhiệm vụ mà ngày nay chúng ta gọi là rủi ro tín dụng. Tổ chức bao thanh toán ký hoá đơn bằng chính tên của mình và giữ lại 20-25% của những khoản phải thu để bù đắp cho việc khiếu nại những hàng hoá không đạt yêu cầu và những tranh chấp phát sinh.
Trong cuộc cách mạng giành độc lập ở Mỹ , BTT được sử dụng phổ biến khi vải, cotton, lông thú và gỗ được chuyên chở đi bán từ các nước thuộc địa. Các ngân hàng ở Châu Âu đã ứng trước tiền bán hàng cho người dân thuộc địa trước khi hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- đến lục địa. Điều này cho phép người dân tiếp tục sản xuất, giảm bớt gánh nặng phải chờ đợi để được thanh toán. Khi cách mạng công nghiệp bùng nổ, BTT càng tập trung hơn vào việc cấp tín dụng.
Qua việc giúp khách hàng xác định được mức độ tín nhiệm của người mua và xác lập hạn mức tín dụng, tổ chức BTT đã thực sự đảm bảo thanh toán cho những người mua đủ điều kiện. Hình thức này chính là BTT miễn truy đòi sử dụng phổ biến hiện nay. Trước những năm 1930, BTT ở Mỹ chủ yếu sử dụng trong ngành công nghiệp dệt may – ngành kế thừa trực tiếp từ nền kinh tế thực dân, nơi mà BTT đã rất phổ biến. Sau chiến tranh, các tổ chức BTT nhận thấy tiềm năng từ việc tài trợ cho những ngành khác và họ bắt đầu mở rộng kinh doanh.
Số lượng các tổ chức BTT gia tăng nhanh chóng vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, bởi sự tác động của việc gia tăng lãi suất liên tục và những chuyển biến trong hoạt động ngân hàng. Cho đến nay bao thanh toán đã được sử dụng rộng rãi trên hầu hết các Châu Lục với tốc độ tăng trưỏng liên tục và khá ổn định.4 Phân loại bao thanh toán 1.1 Căn cứ vào mức độ rủi ro tín dụng • BTT có truy đòi : Với hình thức BTT này, đơn vị BTT có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước từ bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng thanh toán các khoản phải thu. Có thể thấy đơn vị BTT chỉ thực sự chịu rủi ro khi bên mua không thanh toán được các khoản phải thu và bên bán không thể bù đắp thiếu hụt.