Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, công nghiệp luôn giữ vai trò là trục động lực kéo theo sự tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Số liệu thống kê giai đoạn 2005–2007 cho thấy tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu GDP cả nước liên tục duy trì ở mức cao, tăng từ 40,97% năm 2005 lên 41,58% vào năm 2007, đồng thời thu hút gần 20% tổng lực lượng lao động xã hội. Tuy nhiên, bức tranh phát triển công nghiệp giữa các vùng miền tồn tại sự phân hóa rõ rệt, đặc biệt là tại các tỉnh miền núi, biên giới Đông Bắc. Điển hình như tỉnh Cao Bằng, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 0,06% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, phản ánh một nền kinh tế cục bộ chậm phát triển và phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp tự cấp tự túc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là giải quyết nghịch lý giữa tiềm năng tự nhiên phong phú và thực trạng phát triển công nghiệp manh mún, kém hiệu quả tại Cao Bằng. Tỉnh sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản vượt trội với hơn 50,45 triệu tấn quặng sắt, trữ lượng quặng mangan trên 6,065 triệu tấn thuộc nhóm lớn nhất cả nước, cùng tiềm năng thủy điện dồi dào trên hệ thống sông Gâm. Tuy nhiên, hoạt động khai thác và chế biến công nghiệp trên địa bàn còn phân tán, thiếu quy hoạch đồng bộ, công nghệ sản xuất lạc hậu và chưa tạo ra các chuỗi giá trị gia tăng cao. Thêm vào đó, việc phát triển công nghiệp chưa tận dụng hiệu quả lợi thế địa kinh tế từ hơn 332 km đường biên giới giáp thị trường Tây Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu quốc gia.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển công nghiệp địa phương; phân tích thực trạng ngành công nghiệp Cao Bằng giai đoạn 1995–2007 nhằm nhận diện rõ các điểm nghẽn về hạ tầng, công nghệ, vốn và lao động; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và cơ chế chính sách mang tính đột phá cho giai đoạn 2008–2015. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ các phân ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến, sản xuất điện nước trên địa bàn 13 huyện, thị xã của tỉnh. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học giúp lãnh đạo địa phương điều chỉnh quy hoạch ngành, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng trong cơ cấu GDP tỉnh từ 21,94% năm 2007 lên trên 30% vào năm 2015, đồng thời giảm hệ số sử dụng vốn ICOR từ mức 6,30 xuống ngưỡng an toàn từ 4,50 đến 5,00.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp với lý thuyết lợi thế so sánh của kinh tế học phát triển. Trong cấu trúc kinh tế hiện đại, công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp sang nền kinh tế lấy công nghiệp chế biến và dịch vụ giá trị gia tăng cao làm động lực. Mô hình phân tích môi trường vĩ mô PEST (Chính trị, Kinh tế, Xã hội, Công nghệ) được vận dụng để mổ xẻ toàn diện các điều kiện khách quan và chủ quan tác động đến ngành công nghiệp tại một địa bàn đặc thù miền núi biên giới. Bên cạnh đó, khung ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) được tích hợp nhằm đối chiếu các nguồn lực nội tại với bối cảnh thương mại quốc tế khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hội nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Cơ cấu kinh tế công nghiệp: Tổng thể các mối quan hệ kinh tế giữa các ngành công nghiệp chuyên môn hóa, được bố trí hợp lý về mặt không gian và thời gian nhằm phát huy lợi thế so sánh của địa phương.
  2. Công nghiệp chế biến sâu: Phương thức sản xuất công nghệ cao biến đổi nguyên liệu thô qua nhiều công đoạn tinh luyện phức tạp để gia tăng giá trị xuất bán và giảm thiểu tiêu hao tài nguyên không tái tạo.
  3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp: Khả năng của sản phẩm trong việc đáp ứng thị hiếu thị trường về chất lượng, giá thành, quy chuẩn môi trường và độ ổn định về sản lượng so với các đối thủ cùng phân khúc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1995–2007, các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND tỉnh Cao Bằng, dữ liệu của Tổng cục Thống kê, cùng các đề tài quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh giai đoạn 2001–2010 đã được công bố.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn gián tiếp theo phương pháp chuyên gia Delphi kết hợp khảo sát thực địa. Cỡ mẫu điều tra gồm 60 đối tượng, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu định mức có chủ đích (purposive sampling). Mẫu khảo sát bao gồm cán bộ lãnh đạo các Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, lãnh đạo UBND các huyện thị trọng điểm (Thị xã Cao Bằng, Hòa An, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Phục Hòa) cùng các chuyên gia quản lý doanh nghiệp công nghiệp tiêu biểu trên địa bàn. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ lý do ngành công nghiệp địa phương có tính đặc thù cao, đòi hỏi những đánh giá chuyên sâu từ các nhà quản trị am hiểu trực tiếp về rào cản chính sách, công nghệ chế biến và vận hành sản xuất thực tế tại vùng cao.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp giữa phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian đối chứng, tính toán hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tăng thêm (ICOR) và tổng hợp ma trận đánh giá nhân tố định tính. Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu được triển khai chặt chẽ từ năm 2007 đến giữa năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp của tỉnh sụt giảm mạnh nhưng tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lại duy trì ở mức cao. Tính đến cuối năm 2007, toàn tỉnh có 1.554 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, giảm 39,15% so với mức 2.554 cơ sở của năm 1995. Sự sụt giảm tập trung chủ yếu ở các hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ do thiếu vốn và công nghệ. Dù số lượng cơ sở giảm, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) giai đoạn 2001–2007 vẫn đạt mức tăng trưởng bình quân ấn tượng 18,2%/năm, trong đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng bình quân 26,3%/năm và khu vực quốc doanh tăng 16,6%/năm.

Thứ hai, tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tỷ trọng số lượng doanh nghiệp và tỷ trọng đóng góp giá trị sản xuất giữa các thành phần kinh tế. Khu vực ngoài quốc doanh chiếm tới 99,42% tổng số cơ sở sản xuất nhưng chỉ đóng góp 47,73% giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007. Ngược lại, khu vực kinh tế nhà nước tuy chỉ còn vỏn vẹn 9 doanh nghiệp (chiếm 0,58% về số lượng) nhưng lại chiếm giữ vị trí then chốt khi tạo ra 52,27% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Năng suất lao động bình quân trong khối doanh nghiệp nhà nước cao gấp 2,5 đến 3,0 lần so với khối tư nhân, do được trang bị máy móc cơ giới hóa tốt hơn.

Thứ ba, cơ cấu nội ngành công nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng nâng dần tỷ trọng chế biến nhưng chất lượng tăng trưởng chưa vững chắc và hiệu quả sử dụng vốn còn thấp. Nhóm ngành công nghiệp chế biến chiếm 87,97% tổng số cơ sở (trong đó chế biến nông lâm sản, thực phẩm chiếm 22,2%), nhóm khai khoáng chiếm 11,26% và sản xuất phân phối điện nước chiếm 0,22%. Tuy nhiên, hệ số ICOR bình quân giai đoạn 2000–2007 của tỉnh lên tới 6,30, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình 4,50–5,00 của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu công nghiệp sau khi đạt đỉnh trên 15 triệu USD vào năm 2004 đã sụt giảm xuống còn khoảng 9,55 triệu USD vào năm 2007 do thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc cấm xuất khẩu khoáng sản thô chưa qua chế biến sâu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực cạnh tranh thấp của sản phẩm công nghiệp Cao Bằng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về công nghệ, phần lớn thiết bị ở mức trung bình thấp và chắp vá. Ví dụ điển hình như các lò cao luyện gang chỉ có dung tích từ 22 m3 đến 50 m3, quy mô chỉ bằng 20% đến 25% so với lò cao tiêu chuẩn tại Thái Nguyên, khiến định mức tiêu hao nguyên vật liệu cao và đẩy giá thành tăng. Tương tự, nhà máy xi măng với công suất 6 vạn tấn/năm sử dụng công nghệ lò đứng cũ kỹ nên sản phẩm xi măng PC30 Cao Bằng khó cạnh tranh về giá ngay trên sân nhà trước các dòng sản phẩm xi măng La Hiên, Lưu Xá chuyển từ miền xuôi lên.

Khi so sánh với các địa phương đã công nghiệp hóa thành công như Đồng Nai (nơi có 23 khu công nghiệp tập trung quy mô trên 11.000 ha và khu vực FDI chiếm trên 64,8% giá trị sản xuất) hay Hưng Yên (tận dụng lợi thế đồng bằng để đạt mức tăng trưởng 26,7%/năm), Cao Bằng gặp bất lợi lớn về địa hình chia cắt, giao thông độc đạo và thị trường nội tỉnh nhỏ bé với dân số hơn 50 vạn người. Trong suốt giai đoạn 2001–2005, tỉnh chỉ thu hút được khoảng 3 triệu USD vốn FDI.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được hình dung một cách trực quan thông qua bảng đối chiếu ma trận SWOT và biểu đồ cột kết hợp đường biểu diễn chuỗi thời gian. Biểu đồ đường sẽ thể hiện rõ nét sự biến động của hệ số ICOR (duy trì ở mức cao 6,30) tương quan với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành công nghiệp (đạt 14,56%/năm), trong khi bảng ma trận sẽ phân định ranh giới giữa tiềm năng 6,065 triệu tấn mangan, 172 MW thủy điện với các hạn chế nội tại về vốn và nhân lực kỹ thuật.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tạo bước đột phá cho ngành công nghiệp Cao Bằng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đẩy mạnh công tác lập, quản lý quy hoạch và hoàn thiện hạ tầng khu, cụm công nghiệp: UBND tỉnh Cao Bằng và Sở Xây dựng cần khẩn trương đầu tư hoàn thiện đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông nội khu, cấp thoát nước, trạm xử lý nước thải tập trung) cho 01 khu công nghiệp và 01 cụm công nghiệp đầu tiên của tỉnh trong giai đoạn 2008–2010. Phấn đấu đạt tỷ lệ lấp đầy mặt bằng sản xuất tối thiểu 60% vào năm 2015, khắc phục triệt để tình trạng các cơ sở sản xuất nằm phân tán trong khu dân cư đô thị.

  2. Chuyển đổi mô hình công nghệ từ khai thác thô sang chế biến sâu khoáng sản và năng lượng sạch: Sở Công Thương cần phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp khoáng sản trên địa bàn kiên quyết loại bỏ các lò cao luyện gang công nghệ cũ dưới 50 m3; triển khai mở rộng 02 nhà máy luyện Fero mangan nâng công suất lên 20.000 tấn/năm, xây dựng 02 nhà máy sản xuất mangan điện giải (EMD) công suất 20.000 tấn/năm và xúc tiến 02 dự án sản xuất bột Alumin quy mô 300.000 tấn/năm trước năm 2015. Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ triển khai 26 dự án thủy điện nhỏ (tổng công suất 120 MW) và nhà máy thủy điện Bảo Lâm trên dòng chính sông Gâm công suất 172 MW nhằm tự chủ 100% nguồn năng lượng phục vụ công nghiệp chế tạo.

  3. Đào tạo, nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực và đổi mới năng lực quản trị doanh nghiệp: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề tổ chức các chương trình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động công nghiệp qua đào tạo kỹ thuật từ 42% năm 2006 lên mức 65% vào năm 2015, trong đó đào tạo chuyên sâu cho trên 5.000 lao động chuyển dịch từ khu vực nông thôn sang sản xuất công nghiệp.

  4. Nâng cao hiệu quả cải cách hành chính và xúc tiến đầu tư kinh tế biên mậu: Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu và Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh cần áp dụng cơ chế một cửa liên thông, rút ngắn 50% thời gian xử lý thủ tục cấp phép đầu tư. Tận dụng triệt để lợi thế 332 km đường biên giới và các cặp cửa khẩu Tà Lùng, Sóc Giang, Trà Lĩnh; chủ động phối hợp với các bộ ngành Trung ương nghiên cứu tiền khả thi tuyến đường sắt kết nối thị xã Cao Bằng qua cửa khẩu Tà Lùng tới huyện Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) trong tầm nhìn đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh: Cán bộ tại Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc có thể sử dụng các số liệu đánh giá thực trạng và ma trận PEST/SWOT trong luận văn làm cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp và điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư biên mậu.

  2. Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Kinh tế phát triển: Công trình cung cấp một case study thực tế chuyên sâu về sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế tại một địa bàn miền núi có điểm xuất phát thấp. Người đọc có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa tính toán chỉ số ICOR, khảo sát chuyên gia Delphi và phân tích chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 1995–2007.

  3. Doanh nghiệp và nhà đầu tư trong lĩnh vực khai khoáng, luyện kim, thủy điện: Các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể nắm bắt bức tranh toàn cảnh về tiềm năng tài nguyên của tỉnh với trữ lượng 50,45 triệu tấn sắt, 6,065 triệu tấn mangan và 85,34 triệu tấn bauxit, từ đó xây dựng phương án khả thi cho các dự án chế biến sâu và xây dựng nhà máy điện tái tạo.

  4. Các tổ chức tài chính quốc tế và cơ quan tài trợ phát triển: Các chuyên viên thẩm định dự án từ Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể tham khảo tài liệu để đánh giá hiệu quả chương trình năng lượng nông thôn, nhu cầu nâng cấp lưới điện 110 kV và cải thiện mạng lưới giao thông liên vùng nhằm tài trợ các gói tín dụng ưu đãi.

Câu hỏi thường gặp

  1. Lợi thế so sánh lớn nhất của công nghiệp tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn nghiên cứu là gì? Lợi thế lớn nhất của tỉnh nằm ở nguồn tài nguyên khoáng sản kim loại dồi dào và mạng lưới thủy văn phục vụ thủy điện. Toàn tỉnh có 150 mỏ với 22 loại khoáng sản, tiêu biểu là quặng sắt (50,45 triệu tấn), mangan (6,065 triệu tấn) và bauxit (85,34 triệu tấn), cùng khả năng phát triển trên 136 MW thủy điện nhỏ tại chỗ.

  2. Vì sao kim ngạch xuất khẩu công nghiệp của tỉnh lại giảm từ sau năm 2004? Kim ngạch xuất khẩu giảm từ mức đỉnh 15 triệu USD năm 2004 xuống 9,55 triệu USD năm 2007 do Chính phủ thực hiện chính sách siết chặt, hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô chưa qua chế biến (như quặng sắt, mangan thô) nhằm bảo vệ tài nguyên và buộc các địa phương phải đầu tư chiều sâu vào công nghệ tinh luyện.

  3. Nguyên nhân khiến hệ số ICOR của công nghiệp Cao Bằng ở mức cao 6,30 là gì? Hệ số ICOR giai đoạn 2000–2007 của tỉnh cao (6,30 so với mức 4,50–5,00 của cả nước) do xuất phát điểm kinh tế thấp, vốn đầu tư công chủ yếu phải dồn vào việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật ban đầu có chi phí cao trên địa hình đèo dốc hiểm trở, trong khi các cơ sở chế biến chưa phát huy hết công suất thiết kế.

  4. Khu vực kinh tế nhà nước giữ vị trí như thế nào trong cơ cấu công nghiệp địa phương? Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo tuyệt đối về mặt giá trị. Dù chỉ có 9 đơn vị sản xuất trên tổng số 1.554 cơ sở (chiếm 0,58%), khối này tạo ra tới 52,27% giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 và đạt năng suất lao động cao gấp 2,5 đến 3,0 lần khối kinh tế ngoài quốc doanh.

  5. Giải pháp then chốt nào giúp tỉnh phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường? Giải pháp cốt lõi là chấm dứt cấp phép các dự án khai thác nhỏ lẻ, đóng cửa các lò cao luyện gang thủ công dung tích dưới 50 m3, chuyển đổi sang các nhà máy luyện kim công nghệ khép kín như Fero mangan 20.000 tấn/năm, đồng thời đẩy mạnh 46 trạm thủy điện nhỏ để cung ứng năng lượng sạch.

Kết luận

  • Luận văn đã làm rõ vai trò động lực hàng đầu của ngành công nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế Cao Bằng với tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân đạt 18,2%/năm giai đoạn 2001–2007.
  • Chỉ rõ những tồn tại cốt lõi của địa phương là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lò đứng và lò luyện lạc hậu, phân bố tản mạn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp với hệ số ICOR lên tới 6,30.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện, có tính ứng dụng cao từ quy hoạch phát triển khu cụm công nghiệp, hiện đại hóa chuỗi chế biến sâu quặng mangan, sắt, bauxit đến khai phóng tiềm năng 172 MW thủy điện sông Gâm.
  • Lộ trình triển khai khuyến nghị tập trung hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật nền tảng giai đoạn 2008–2010 và bứt phá về năng lực công nghệ chế biến sâu trong giai đoạn 2011–2015.
  • Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng hiện thực hóa các chính sách khuyến khích đầu tư, biến lợi thế tài nguyên và 332 km đường biên giới thành sức bật kinh tế vững chắc cho tỉnh Cao Bằng.