Chương 1 của nghiên cứu tập trung liên quan đến những nội dung chủ yếu có quan hệ đến công tác hỗ trợ công nghiệp. Thông qua việc nêu rõ những yếu tố này, chương này sẽ tạo ra tiền đề để thiết kế mô hình nghiên cứu công tác khuyến khích hỗ trợ công nghiệp cho doanh nghiệp tại Tỉnh BRVT. Những nội dung quan trọng được tập trung xem xét bao gồm mặt trận kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, và hệ thống pháp lý. Tất cả yếu tố này có vai trò riêng biệt và liên quan đến việc phát triển công nghiệp.1 Khái niệm công nghiệp Khái niệm về công nghiệp khá rộng.
Nói phổ biến, “ngành công nghiệp” có xu hướng có nghĩa là “công nghiệp sản xuất” và đôi khi - thậm chí còn hẹp hơn – chỉ là “sản xuất”. Theo nghĩa này, ngành công nghiệp sản xuất được liên kết cổ điển với khu vực thứ cấp, trái ngược với khu vực sơ cấp “nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và các ngành công nghiệp khai thác” hoặc cấp ba “dịch vụ”. Nhưng công nghiệp cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn là bao hàm tất cả các hoạt động cho phép chuyển đổi kết quả nghiên cứu thành hàng hóa và tiện ích mới. Theo Cohen và cộng sự (2000) , “thuật ngữ này xuất hiện vào thế kỷ 15 và sau đó phát triển theo thời gian”.
Các tác giả đã chỉ ra bài viết “Industry” (công nghiệp) của François Quesnay trong Bách khoa toàn thư, hoặc Từ điển có hệ thống về Khoa học, Nghệ thuật và Thủ công (1751-72), đề cập rằng từ này có nghĩa là “công việc thủ công đơn giản, hoặc phát minh ra máy móc hữu ích, quan hệ với những ngành nghệ thuật… ngành công nghiệp bao trùm mọi thứ, làm sống động mọi thứ và làm sống động mọi thứ trong tự nhiên”. Sau đó, Jean-Baptiste Say đã đưa ra một định nghĩa mới về ngành công nghiệp trong Traité d’Economie Politique (1803), đó là “hoạt động của con người được triển khai sản xuất hàng hóa hữu ích. 8 Sau đó, phân biệt giữa công nghiệp nông nghiệp, công nghiệp sản xuất và công nghiệp thương mại”. Theo Wikipedia, “công nghiệp là một phần của nền kinh tế, tập trung vào sản xuất hàng hóa vật chất thông qua quá trình “chế tạo, chế biến, chế tác, chế phẩm” để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh tiếp theo trong cuộc sống hàng ngày của con người.
Đây là một hoạt động kinh tế quy mô lớn, được thúc đẩy bởi sự tiến bộ trong công nghệ, khoa học và kỹ thuật. Một cách rộng lớn hơn, công nghiệp là “hoạt động kinh tế quy mô lớn, tạo ra sản phẩm (có thể là phi vật thể) để trở thành hàng hóa”. Điều này có nghĩa là khi các hoạt động kinh tế chuyên sâu đạt đến một quy mô nhất định, chúng sẽ trở thành các ngành công nghiệp, như công nghiệp phần mềm, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang, và nhiều ngành công nghiệp khác” Theo định nghĩa của Nguyễn Kế Tuấn và Nguyễn Đình Phan (2007), “công nghiệp là một phần của lĩnh vực sản xuất vật chất, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc sản xuất vật chất của xã hội” Theo Hiệp hội Kỹ sư Pháp, “công nghiệp bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế tạo ra tài sản vật chất thông qua việc biến đổi nguyên vật liệu. Công nghiệp bao gồm nhiều lĩnh vực cơ bản và liên kết với các lĩnh vực khác như thương mại và dịch vụ”.
Tuy có nhiều quan điểm đa chiều đối với lý thuyết công nghiệp, nhưng có thể hiểu tổng quát rằng công nghiệp là ngành sản xuất vật chất, gồm cả việc khai thác nguyên liệu, chế biến hàng hóa từ nông nghiệp, và sản xuất hàng hóa công nghiệp. Công nghiệp gồm luôn việc sửa chữa thiết bị và vật liệu tiêu dùng. Các nội dung này, bất kể quy mô, phương thức hoặc công nghệ sử dụng, đều xem như là công nghiệp. Thủ công nghiệp, đều là quá trình tạo ra hàng hóa nhưng quy mô nhỏ hơn, thường phục vụ các khách hàng cá nhân và có vốn đầu tư ít hơn.2 Phân biệt ngành công nghiệp với các ngành khác - Ngành công nghiệp khác với ngành nông nghiệp cơ bản như sau 9 1) Quá trình sản xuất: Trong ngành công nghiệp, sản xuất thường là quá trình khai thác, gia công từ nguyên liệu để tạo ra thành phẩm cuối cùng.
Trong khi đó, trong ngành nông nghiệp, quá trình sản xuất thường kết hợp sự tương tác giữa con người và thực vật, động vật nhằm sản xuất hàng hóa nông sản. 2) Sự thay đổi cơ cấu và đặc điểm hàng hóa: Tại ngành công nghiệp, con người có thể làm thay đổi cơ cấu, tính chất hàng hóa bằng cách thay đổi quy trình chế biến sản xuất. Trong khi đó, trong ngành nông nghiệp, sức lao động thường chỉ tăng thêm chất lượng của sản phẩm nông sản mà không làm thay đổi đặc tính tự nhiên của sản phẩm đó. 3) Qui trình sản xuất hang loạt: Hàng hóa thường sản xuất quy mô lớn trong ngành công nghiệp, với qui trình sản xuất ổn định và được lặp lại.
Trong khi đó, trong ngành nông nghiệp, mỗi vụ mùa thường đòi hỏi các phương pháp sản xuất đặc biệt cho từng loại cây trồng hoặc động vật, không phải lúc nào cũng có qui trình sản xuất ổn định. - Ngành công nghiệp khác với ngành xây dựng cơ bản như sau : 1) Qui trình sản xuất: Trong ngành công nghiệp, phương pháp sản xuất là khai thác và chế biến những nguyên liệu nhằm tạo ra hàng hóa. Trong khi đó, ngành xây dựng cơ bản nghiêng về việc xây dựng và lắp ráp dự án xây lắp. 2) Địa điểm sản xuất: Trong ngành công nghiệp, địa điểm thường ổn định, tập trung tại các nhà máy, nhà xưởng.
Trong khi đó, địa điểm sản xuất trong ngành xây dựng cơ bản thường thay đổi, tùy thuộc vào vị trí của công trình cần xây dựng. 3) Sản phẩm và di chuyển: Sản phẩm công nghiệp thường có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác, trong khi sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản thường không thể di chuyển sau khi đã hoàn thành và được sử dụng tại chỗ 4) Qui mô sản xuất: Tại ngành công nghiệp, sản phẩm thường sản xuất hàng loạt lớn và qui trình sản xuất ổn định. Còn sản phẩm trong ngành xây dựng cơ bản thường được sản xuất đơn chiếc và mỗi lần sản xuất đều phải thiết kế và thi công độc lập. Ngành công nghiệp khác với ngành vận tải hàng hóa như sau: 10 1) Mục đích: Ngành công nghiệp chuyên sâu chế tạo các hàng hóa tốt hơn, từ nguyên liệu hoặc thành phẩm, để thỏa mãn yêu cầu của xã hội.
Mặt khác, ngành vận tải hàng hóa không sản xuất sản phẩm mới mà tập trung vào vận chuyển, di chuyển và phân phối hàng hóa được tạo ra từ ngành sản xuất. 2) Giá trị gia tăng: Ngành công nghiệp tạo ra giá trị thặng dư bằng cách chuyển đổi nguyên liệu hoặc thành phẩm thành các hàng hóa mới có giá trị cao hơn. Trong khi đó, ngành vận tải hàng hóa chỉ gia tăng giá trị cho hàng hóa bằng cách di chuyển chúng đến nơi tiêu thụ mong muốn. 3) Qui trình sản xuất: Trong ngành công nghiệp, quy trình sản xuất thường liên quan đến việc chế biến, lắp ráp, và sản xuất hàng loạt hàng hóa mới.
Trong khi đó, trong vận tải hàng hóa, quy trình chủ yếu về việc vận chuyển, quản lý chuỗi cung ứng sản phẩm. Ngoái ra ngành công nghiệp khác với ngành thương nghiệp và ăn uống công cộng ở chỗ: Ngành thương nghiệp không thăm giò, gia công hoặc sửa chữa hàng hòa của xã hội như ngành công nghiệp mà chỉ làm nhiệm vụ phân phối và tiêu thụ hàng hóa… 1.3 Phân loại công nghiệp Trong lĩnh vực công nghiệp, sự đa dạng là không thể phủ nhận. Phân loại công nghiệp đòi hỏi sự linh hoạt và đa chiều, tuỳ thuộc vào nhiều tiêu chí khác nhau. Dưới đây là một số phương pháp phân nhóm: 1.
Theo phương thức sử dụng vốn và phân phối lao động: Chia thành hai loại chính là công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng, thể hiện mức độ phức tạp trong công nghệ trong quá trình chế biến. Theo danh mục sản phẩm, lĩnh vực: Công nghiệp được phân thành các nhóm dựa trên loại sản phẩm hoặc ngành nghề sản xuất, ví dụ như công nghiệp xăng dầu, dệt may. Theo cấp độ quản lý: Công nghiệp được phân thành các kiểu quản lý, bao gồm công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương, tùy thuộc vào tổ chức và quản lý của chính phủ. 11 Trong đa số quốc gia Đông Nam Á, ngành công nghiệp đa dạng và phong phú, bao gồm một loạt các lĩnh vực khác nhau.
Từ khai thác đến sản xuất thực phẩm và gỗ, từ cung cấp năng lượng đến sản xuất hàng may mặc hay đồ dùng gia đình…. Công nghiệp đóng vị trí hàng đầu với phương hướng đẩy mạnh phát triển kinh tế và xã hội. Tại Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, thường sử dụng một số hệ thống phân loại phổ biến như Standard Industrial Classification (SIC), Global Industry Classification Standard (GICS), và North American Industry Classification System (NAICS) Hệ thống SIC, được thành lập vào năm 1937 bởi Interdepartmental Committee, là hệ thống phân loại lâu đời nhất trong ba hệ thống này. Nó phân loại thị trường tổng hợp theo mã bốn chữ số.
Mục tiêu của việc thiết lập mã SIC là để phát triển nó cho dữ liệu thống kê và được Chính phủ Liên bang thông qua (Pearce, 1957). Mặc dù ban đầu được phát triển cho mục đích sử dụng của chính phủ, nhưng cách phân loại trên đã được những nhà marketing và kinh tế tài chính đồng ý rộng rãi trong những năm sau đó. Ví dụ, “việc sử dụng rộng rãi của hệ thống cho thấy sự chuyển động của nền kinh tế theo định kỳ và tổ chức công nghiệp” (Bhojraj, Lee và Oler, 2003). Do tính tiên tiến và sáng tạo của nó vào thời điểm đó, nó đã có vị trí ưu việt trên thị trường cho tới khi NAICS thay thế vào những năm 1990.
Mặc dù vậy, Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC) vẫn tiếp tục sử dụng mã SIC cho đến ngày nay. Năm 1999, Cục Thống kê của Hoa Kỳ, Canada và Mexico, xây dựng hệ thống NAICS mới bao gồm 358 ngành và sắp xếp lại các danh mục SIC. Nó có phạm vi rộng hơn bao gồm nhiều ngành hơn và chi tiết hơn trong cấp ngành so với mã SIC. NAICS sử dụng sáu chữ số để phân loại thị trường tiền tệ.