ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BẮC NINH

Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút FDI tại Bắc Ninh. Phân tích thực trạng, cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy đầu tư.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở

2023

133
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1. CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

1.1.1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ

1.1.2. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ

1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công nghiệp hỗ trợ

1.2. THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.2.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.3.1. Một số lý thuyết có liên quan

1.3.2. Ảnh hưởng của công nghệ hỗ trợ đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tổng quan về mô hình nghiên cứu

2.1.2. Đề xuất mô hình nghiên cứu

2.1.3. Thang đo và giả thuyết nghiên cứu

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Quy trình nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

2.2.3. Cỡ mẫu trong nghiên cứu

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BẮC NINH

3.1. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BẮC NINH

3.1.1. Các văn bản pháp lý về phát triển công nghiệp hỗ trợ

3.1.2. Các văn bản pháp lý về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI TỈNH BẮC NINH

3.2.1. Cơ chế phát triển công nghiệp hỗ trợ của tỉnh Bắc Ninh

3.2.2. Các lợi thế cho phát triển công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh Bắc Ninh

3.2.3. Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh Bắc Ninh

3.3. ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BẮC NINH

3.3.1. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến sự hài lòng của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

3.3.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

4.1. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BẮC NINH

4.1.1. Khuyến nghị với các doanh nghiệp hỗ trợ

4.1.2. Khuyến nghị với Chính phủ

4.1.3. Khuyến nghị với tỉnh Bắc Ninh

4.2. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

4.2.1. Hạn chế của đề tài

4.2.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

4.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Ảnh Hưởng Của CNHT Đến Thu Hút FDI Bắc Ninh

Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngày càng đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất công nghiệp tại Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc thiếu CNHT đồng nghĩa với sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, làm giảm tính cạnh tranh. Việt Nam, với vị thế là thị trường hấp dẫn, cần CNHT để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Một hệ thống CNHT vững mạnh sẽ là yếu tố quyết định, giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Phát triển CNHT có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 6/8/2020 của Chính phủ nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2025, doanh nghiệp Việt Nam có khả năng sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có tính cạnh tranh cao, cùng với nhiều chính sách khuyến khích khác.

1.1. Tầm quan trọng của Công nghiệp Hỗ trợ CNHT

CNHT bao gồm các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, phụ tùng, linh kiện, thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, chế biến, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh. CNHT đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam. Việc có sẵn nguồn cung về nguyên vật liệu, phụ liệu là điểm hấp dẫn để các nhà đầu tư xem xét khả năng giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh. GS. Michael (1990) phân tích CNHT thông qua lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia qua mô hình kim cương, coi CNHT là một trong bốn yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.

1.2. Bắc Ninh Điểm sáng Thu Hút FDI nhờ CNHT

Tỉnh Bắc Ninh là địa phương có nhiều lợi thế trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI, là điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. CNHT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã và đang từng bước phát triển, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp của tỉnh theo hướng hiện đại và bền vững, góp phần hình thành mối liên kết giữa các DN trong nước và các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Toàn tỉnh Bắc Ninh có gần 600 doanh nghiệp CNHT hoạt động chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực lắp ráp sản phẩm điện tử, cơ khí, thực phẩm, đồ uống công nghệ cao, trong đó ngành công nghiệp điện - điện tử và cơ khí chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất.

II. Thách Thức và Rào Cản CNHT Bắc Ninh Ảnh Hưởng FDI

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, CNHT tại Bắc Ninh vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, năng lực cạnh tranh chưa cao, và sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Các vấn đề về khung pháp lý, quy mô CNHT, sự hài lòng của các nhà đầu tư đối với CNHT vẫn còn tồn tại. Việc đưa ra các giái pháp hiệu quả để thúc đẩy phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là điều hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi mà tỉnh Bắc Ninh cũng đã đưa ra những chính sách phát triển CNHT trên nhiều khía cạnh như phát triển các cụm CNHT, thúc đẩy nghiên cứu phát triển chuỗi cung ứng, đầu tư cho nhân lực. Tất cả những vấn đề đó cần được xem xét nghiên cứu một cách cụ thể để đưa ra những khuyến nghị cụ thể góp phần thúc đẩy sự phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

2.1. Hạn chế về Quy mô và Năng lực cạnh tranh CNHT

Các doanh nghiệp CNHT tại Bắc Ninh còn nhỏ, năng lực cạnh tranh còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp FDI. Mức độ chủ động về nguồn nguyên liệu còn thấp, chi phí đầu vào còn cao. Đỗ Thị Thu Thủy (2021) cho rằng trong lĩnh vực CNHT tại Việt Nam, nhà cung cấp nhập khẩu đang lấn át nhà cung cấp trong nước, CNHT trong nước còn khó tiếp cận khách hàng, chất lượng, công nghệ lạc hậu, thiếu nhân lực chất lượng cao, năng lực nghiên cứu sáng tạo kém.

2.2. Thiếu Liên kết giữa DN FDI và DN CNHT nội địa

Sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp CNHT trong nước còn lỏng lẻo, chưa tạo thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Các doanh nghiệp FDI vẫn có xu hướng nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài. Ryuichiro, Inoue (1999) nhấn mạnh sự cần thiết của việc điều chỉnh chiến lược phát triển các ngành công nghiệp, đưa ra các giải pháp như tăng cường phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô, điện tử, đẩy mạnh mô hình liên kết công nghiệp, xây dựng các khu, cụm công nghiệp và thiết thống hệ thống CNHT hoàn chỉnh.

III. Phương Pháp Nâng Cao CNHT Hấp Dẫn Đầu Tư FDI Bắc Ninh

Để giải quyết các thách thức trên, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Cần tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp CNHT, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, và cải thiện môi trường đầu tư. Tỉnh Bắc Ninh cần có chiến lược quy hoạch phát triển các khu công nghiệp hỗ trợ. Trong điều kiện toàn cầu hóa và khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ cũng xuất hiện hàng loạt các yếu tố đòi hỏi cần chỉnh sửa bổ sung hoàn thiện như vấn đề về khung pháp lý, quy mô CNHT, sự hài lòng của các nhà đầu tư đối với CNHT.

3.1. Nâng cao Năng lực Cạnh tranh cho DN CNHT

Cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp CNHT nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các doanh nghiệp CNHT cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp FDI. Cần tập trung đầu tư cho nhân lực, nhưng đối với các DNHT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh bên cạnh những thuận lợi thì có những khó khăn nhất định như chi phí đầu vào, mặt bằng sản xuất, mức độ chủ động về nguồn nguyên liệu, sự hài lòng của các nhà đầu tư FDI với CNHT.

3.2. Thúc đẩy Liên kết giữa DN FDI và DN nội địa

Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp FDI sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp CNHT trong nước. Cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp CNHT tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI. Lê Tuấn Lộc và cộng sự (2013) cho rằng sự hài lòng của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu ảnh hưởng bởi 8 yếu tố: quy mô thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, sự hình thành cụm ngành, công tác quản lý và hỗ trợ của chính quyền địa phương, chính sách ưu đãi đầu tư, vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên.

3.3. Cải thiện Môi trường Đầu tư tại Bắc Ninh

Cần tiếp tục cải thiện thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng và minh bạch. Cần đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông và hạ tầng công nghiệp. Shapiro và cộng sự (2001) tìm thấy quy mô và nhu cầu thị trường là một trong những động lực lớn đối với FDI, quy mô thị trường khu vực càng lớn càng có khả năng thu hút FDI nhiều hơn. Ngoài ra các yếu tố khác như chi phí lao động, chất lượng lao động, kết cấu hạ tầng cũng là yếu tố quan trọng thu hút FDI.

IV. Nghiên Cứu Ảnh Hưởng CNHT Đến Sự Hài Lòng FDI Bắc Ninh

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của CNHT đến thu hút vốn FDI ở tỉnh Bắc Ninh cụ thể thông qua việc đánh giá thực trạng CNHT trên địa bàn tỉnh, nghiên cứu sự hài lòng của các nhà đầu tư với CNHT tại tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra những giải pháp thúc đẩy CNHT nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến sự hài lòng của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cho thấy các nhà đầu tư FDI đánh giá cao vai trò của CNHT. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần được cải thiện để nâng cao hơn nữa sự hài lòng của các nhà đầu tư.

4.1. Đánh giá Thực trạng CNHT tại Bắc Ninh

Nghiên cứu cần đánh giá thực trạng phát triển CNHT tại Bắc Ninh, bao gồm quy mô, năng lực, và các ngành nghề chủ lực. Cần phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của CNHT tại tỉnh. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như diễn giải, quy nạp, phân tích, tổng hợp và so sánh. Phương pháp khảo sát bảng hỏi với các cán bộ quản lý các cấp ở các DN FDI. Phỏng vấn đối với cán bộ quản lý DNHT và FDI như: Sở kế hoạch đầu tư, Sở Công thương, Ban Quản lý các khu công nghiệp.

4.2. Phân tích Mức độ Hài lòng của Doanh nghiệp FDI

Nghiên cứu cần phân tích mức độ hài lòng của các doanh nghiệp FDI về các yếu tố của CNHT như chất lượng sản phẩm, giá cả, dịch vụ hỗ trợ, và khả năng đáp ứng nhu cầu. Cần xác định các yếu tố CNHT nào có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng của các nhà đầu tư. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với số liệu thu thập được thông qua kết quả khảo sát bằng bảng hỏi đối với các DN FDI đánh giá ảnh hưởng của CNHT đến mức độ hài lòng của các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

V. Đề Xuất Giải Pháp CNHT Thúc Đẩy Thu Hút Vốn FDI Bắc Ninh

Từ kết quả nghiên cứu, cần đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy CNHT và thu hút vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh. Các giải pháp cần tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp CNHT, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, và cải thiện môi trường đầu tư. Đề tài xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm về những ảnh hưởng của CNHT đến thu hút FDI trong đó tập trung đánh giá những ảnh hưởng CNHT đến mức độ hài lòng của DN FDI. Từ kết quả nghiên cứu định lượng, từ định hướng và quan điểm phát triển của tỉnh Bắc Ninh về phát triển CNHT, nhóm nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị đối với các DNHT nội địa trên địa bàn tỉnh, với Chính phủ và khuyến nghị với tỉnh Bắc Ninh.

5.1. Khuyến nghị cho Doanh nghiệp CNHT tại Bắc Ninh

Doanh nghiệp CNHT cần chủ động nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Doanh nghiệp CNHT cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp FDI, tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp CNHT cần quan tâm đến chất lượng sản phẩm, giá cả, và dịch vụ hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư.

5.2. Khuyến nghị cho Chính phủ và Tỉnh Bắc Ninh

Chính phủ và tỉnh Bắc Ninh cần tiếp tục cải thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp CNHT, tạo môi trường đầu tư thông thoáng và minh bạch. Cần đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông và hạ tầng công nghiệp. Cần có chiến lược quy hoạch phát triển các khu công nghiệp hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp CNHT phát triển.

VI. Kết Luận Vai Trò CNHT Trong Thu Hút FDI Bắc Ninh

CNHT đóng vai trò quan trọng trong thu hút FDI vào tỉnh Bắc Ninh. Việc phát triển CNHT là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, chính phủ, và tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu này hy vọng sẽ đóng góp vào việc hoạch định chính sách và định hướng phát triển CNHT tại tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Tuy những nghiên cứu về những ảnh hưởng của CNHT đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam còn hạn chế, khoảng trống nghiên cứu nhóm nghiên cứu nhận thấy cần được làm rõ đó là những lý thuyết về công nghiệp hỗ trợ, sự phát triển của CNHT dựa trên những tiêu chí nào nhất là những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của CNHT trong đó nội dung về sự hài lòng của các nhà đầu tư với CNHT chưa được nhiều nghiên cứu đề cập tới, với phạm vi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của CNHT tới thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đây là khoảng trống để đề tài tập trung nghiên cứu.

6.1. Tổng kết về Ảnh hưởng của CNHT

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về CNHT và những ảnh hưởng của CNHT đến việc thu hút vốn FDI. Đánh giá ảnh hưởng của CNHT đến thu hút vốn FDI ở tỉnh Bắc Ninh thông qua việc đánh giá ảnh hưởng của CNHT tới mức độ hài lòng của các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Đưa ra các khuyến nghị thúc đẩy CNHT nhằm thu hút vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo về CNHT và FDI

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp CNHT, phân tích chuỗi cung ứng CNHT tại Bắc Ninh, và nghiên cứu các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Mắc dù có một số nghiên cứu đã đề cập đến CNHT chủ yếu tập trung vào vai trò của CNHT trong việc thu hút vốn FDI, phân tích đánh giá cơ sở lý luận và thực tiễn về CNHT và chính sách phát triển CNHT ở Việt Nam; hay đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến ngành CNHT.

26/04/2025
Ảnh hưởng của công nghiệp hỗ trợ đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ CNHT là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến hiện nay trong nền công nghiệp hiện đại nhằm nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngành công nghiệp đóng vai trò trung gian hỗ trợ cho các ngành công nghiệp chính với rất nhiều quy trình sản xuất phức tạp. Mặc dù được sử dụng khá nhiều, nhưng định nghĩa về CNHT còn có nhiều cách hiểu khác nhau và chưa thống nhất.

Khái niệm CNHT lần đầu tiên được nhắc đến ở Nhật Bản trong cuốn “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” của Bộ Công Thương Nhật Bản (MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại). Trong tiếng Nhật cụm từ CNHT có nghĩa là “Suso- no San-gyuo”, được sử dụng để chỉ các doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp các linh kiện, phụ kiện cho các doanh nghiệp lớn để đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong thời gian trung và dài hạn. Mục đích của tổ chức này là thúc đẩy phát triển công nghiệp hóa và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các nước Asean. Năm 1987, MITI tiếp tục sử dụng thuật ngữ CNHT để chỉ các ngành cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho các ngành công nghiệp lắp ráp như hàng hóa, linh phụ kiện và nguyên vật liệu thô (Trương Thị Chí Bình, 2010).

Sau khi đồng Yên Nhật tăng giá, để có thể đảm bảo được lợi nhuận, các doanh nghiệp Nhật Bản buộc phải giảm việc xuất khẩu sản phẩm sang các nước khác, đồng thời chuyển các cơ sở sản xuất tại Nhật Bản sang các nước có chi phí nhân công thấp hơn. Tuy nhiên, các nhà máy lắp ráp của Nhật Bản tại nước ngoài vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các DNNVV Nhật Bản vì các sản phẩm của các DN tại nước sở tại không thể đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng. “Thuật ngữ CNHT khi đó được dùng để chỉ sự thiếu hụt các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện phụ tùng ở các nước sở tại. Sau đó, thuật ngữ này đã được phổ biến đến các nước châu Á khác cùng với các chương trình hỗ trợ của Nhật Bản như New Aid Plan năm 1987, chương trình phát triển CNHT châu Á năm 1993” (Nguyễn Thị Xuân Thuý, VDF 2007).

Tại Thái Lan, định nghĩa về CNHT của một số cơ quan, tổ chức cũng có sự khác nhau. Theo MOI định nghĩa: “CNHT là những nhà sản xuất cho linh phụ kiện cho ô tô và điện – điện tử, như gia công kim loại, ép nhựa, khuôn mẫu, đúc, thử nghiệm…. 8 Còn cơ quan Văn phòng phát triển CNHT Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID) định nghĩa CNHT “là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngành CNHT quan trọng”. Trong khi đó, theo Cục phát triển CNHT Thái Lan: “CNHT là các ngành cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản”.

Còn theo Hội đồng đầu tư Thái Lan (BOI 1995) khẳng định: “CNHT là các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp của các ngành công nghiệp ô tô, máy móc cà điện tử”. Có thể thấy, điểm chung trong định nghĩa về CNHT ở Thái Lan đều chỉ các ngành chế tạo và gia công phụ tùng trong lĩnh vực điện tử, điện, ô tô, máy móc là ngành CNHT quan trọng nhất. Trong khi đó, theo (US Department of Energy 2005) Phòng Năng lượng của Hoa Kỳ định nghĩa: “CNHT là những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sử dụng cuối cùng”. Theo định nghĩa này thì ngành CNHT của Mỹ là một số ngành công nghiệp sử dụng năng lượng và cung cấp những sản phẩm cụ thể cho các ngành công nghiệp khác.

Chương trình phát triển ngành CNHT hiện nay ở Mỹ bao gồm 07 ngành: các sản phẩm cacbon, các thiết bị làm nóng công nghiệp; xử lý nhiệt, rèn; hàn, luyện kim và các vật liệu dạng hạt; sứ cao cấp. Có thể thấy, mặc dù các nước có đưa ra những định nghĩa khác nhau về CNHT nhưng về bản chất là giống nhau khi xác định các ngành cung cấp sản phẩm phụ trợ từ bên ngoài cho các ngành công nghiệp chính. Bên cạnh quy định của một số nước tiêu biểu về định nghĩa CNHT, các nhà nghiên cứu cũng có đưa ra những định nghĩa dưới nhiều khía cạnh khác nhau: K. Junichi Mori (2005) cho rằng: “có hai cách định nghĩa về CNHT theo hai cách tiếp cận khác nhau, đó là từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh.

Từ lý thuyết kinh tế, CNHT được định nghĩa như một nhóm các nhà sản xuất các sản phẩm đầu vào. Từ thực tiễn sản xuất kinh doanh, CNHT sản xuất linh kiện, phụ tùng, cũng 9 như máy móc và công cụ để sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng đó”. Nguyễn Thị Xuân Thuý (VDF, 2007) đưa ra khái niệm: “CNHT là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến”. Theo Trần Văn Thọ (2006): “CNHT là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính.

Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v. và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế”. Tại Việt Nam, thuật ngữ về CNHT được sử dụng tương đối muộn. Do trước năm 1986, Việt Nam thực chính sách quy hoạch kinh tế, kế hoạch hóa chỉ thúc đẩy các ngành sản xuất nội bộ hóa tất cả các yếu tố đầu vào trong một cơ cấu hợp nhất theo chiều dọc, có thể là máy nông nghiệp, xe đạp hoặc ô tô.

Các ngành CN này đã được sắp xếp hợp lý hoặc chuyển sang các hoạt động khác kể từ khi thực hiện Đổi mới năm 1986. Do thiếu thông tin cũng như thực tế là các nhà cung cấp trong nước không thể đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, các công ty nước ngoài đã đến Việt Nam vào giữa những năm 1990 có quan điểm cho rằng các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa tồn tại hoặc còn rất sơ khai ở Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc khảo sát do Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) thực hiện năm 2004 cho thấy quan điểm này không hoàn toàn đúng và các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đang phát triển “Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được định nghĩa là “sự hiện diện hoặc vắng mặt trong quốc gia của các ngành cung cấp và các ngành liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế”. Nó bao gồm CNHT và công nghiệp liên quan.

Các ngành CNHT tạo ra lợi thế trong các ngành công nghiệp “hạ nguồn” vì chúng sản xuất ra các yếu tố đầu vào được sử dụng rộng rãi và quan trọng đối với sự đổi mới hoặc quốc tế hóa, trong khi các ngành công nghiệp liên quan là những ngành mà các doanh nghiệp có thể phối hợp hoặc chia sẻ các hoạt động trong chuỗi giá trị khi cạnh tranh hoặc những ngành này liên quan đến các sản phẩm bổ sung. Đến năm 2003, thuật ngữ CNHT được chính thức hoá ghi nhận trong văn bản pháp luật của Việt Nam trong “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành CNHT Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020”. Trong đó, CNHT được định nghĩa “hệ thống CNHT là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng 10 tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng.cho khâu lắp ráp cuối cùng”. Năm 2011, trong Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính Phủ, thì khái niệm CNHT được hiểu là “CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành CN sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh từ tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng” Có thể thấy rằng, các khái niệm về CNHT trên đều có điểm chung là nhấn mạnh đến vai trò và tầm quan trọng của các ngành công nghiệp cung cấp một hoặc nhiều chi tiết, linh kiện đầu vào trong quá trình sản xuất để có thể đưa ra một sản phẩm hoàn chỉnh.

Tuy vậy, mỗi khái niệm khác nhau lại xác định một ranh giới và phạm vi khác nhau cho ngành CNHT. Trên cơ sở phân tích những quan điểm trên, có thể hiểu rằng, CNHT không phải là một ngành công nghiệp tồn tại độc lập, riêng lẻ mà bao gồm nhiều công đoạn, trong nhiều lĩnh vực sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, sản phẩm dưới dạng bán thành phẩm…để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp nhằm tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ Ngành CNHT có mối quan hệ chặt chẽ đến nhiều ngành công nghiệp khác, nên CNHT có những đặc điểm riêng biệt cụ thể như sau: Thứ nhất, ngành CNHT là một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng Mỗi một sản phẩm dù đơn giản hay phức tạp đều trải qua những công đoạn khác nhau từ thiết kế, sản xuất và được cung ứng ra thị trường. Như vậy trong một chuỗi cung ứng đó có rất nhiều thành phần tham gia và CNHT được coi là một mắt xích quan trọng để tạo ra những giá trị của sản phẩm.

CNHT góp phần tăng cường sự liên kết trong chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như da giày, dệt may, điện tử, thủy sản, nông nghiệp. Đồng thời, sự phát triển của CNHT còn có tác dụng thúc đẩy những ngành công nghiệp khác phát triển và thu hút đầu ra của các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ. Thứ hai, ngành CNHT cần nguồn vốn lớn Đặc thù của ngành CNHT là đòi hỏi một lượng vốn khá lớn và cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại để có thể đầu tư và sản xuất ra thành phẩm. Như các sản phẩm trong công nghiệp lắp ráp (ô tô, xe máy, điện tử…) và công nghiệp chế biến (dệt may, 11 giày da…).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Báo cáo "Ảnh hưởng của Công nghiệp Hỗ trợ đến Thu hút Đầu tư FDI tại Bắc Ninh: Nghiên cứu & Giải pháp" đi sâu vào phân tích tác động của ngành công nghiệp hỗ trợ đối với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định những yếu tố then chốt của công nghiệp hỗ trợ đóng góp vào thành công của Bắc Ninh trong việc thu hút FDI, đồng thời chỉ ra những thách thức và đưa ra các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp này. Báo cáo này đặc biệt hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, và các doanh nghiệp quan tâm đến môi trường đầu tư và phát triển công nghiệp tại Bắc Ninh.

Để hiểu rõ hơn về các giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu: Các giải pháp hỗ trợ phát triển công nghiệp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn bà rịa vũng tàu. Nó cung cấp một góc nhìn khác về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp ở một địa phương khác, từ đó rút ra những kinh nghiệm quý báu. Bên cạnh đó, việc phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững. Hãy tìm hiểu thêm tại: Luận văn thạc sĩ phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh bắc ninh đến năm 2020 để có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này tại Bắc Ninh. Đồng thời, để hiểu thêm về cách quản lý FDI một cách hiệu quả, bạn có thể đọc thêm Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại hải phòng.