CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ CNHT là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến hiện nay trong nền công nghiệp hiện đại nhằm nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngành công nghiệp đóng vai trò trung gian hỗ trợ cho các ngành công nghiệp chính với rất nhiều quy trình sản xuất phức tạp. Mặc dù được sử dụng khá nhiều, nhưng định nghĩa về CNHT còn có nhiều cách hiểu khác nhau và chưa thống nhất.
Khái niệm CNHT lần đầu tiên được nhắc đến ở Nhật Bản trong cuốn “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” của Bộ Công Thương Nhật Bản (MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại). Trong tiếng Nhật cụm từ CNHT có nghĩa là “Suso- no San-gyuo”, được sử dụng để chỉ các doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp các linh kiện, phụ kiện cho các doanh nghiệp lớn để đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong thời gian trung và dài hạn. Mục đích của tổ chức này là thúc đẩy phát triển công nghiệp hóa và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các nước Asean. Năm 1987, MITI tiếp tục sử dụng thuật ngữ CNHT để chỉ các ngành cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho các ngành công nghiệp lắp ráp như hàng hóa, linh phụ kiện và nguyên vật liệu thô (Trương Thị Chí Bình, 2010).
Sau khi đồng Yên Nhật tăng giá, để có thể đảm bảo được lợi nhuận, các doanh nghiệp Nhật Bản buộc phải giảm việc xuất khẩu sản phẩm sang các nước khác, đồng thời chuyển các cơ sở sản xuất tại Nhật Bản sang các nước có chi phí nhân công thấp hơn. Tuy nhiên, các nhà máy lắp ráp của Nhật Bản tại nước ngoài vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các DNNVV Nhật Bản vì các sản phẩm của các DN tại nước sở tại không thể đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng. “Thuật ngữ CNHT khi đó được dùng để chỉ sự thiếu hụt các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện phụ tùng ở các nước sở tại. Sau đó, thuật ngữ này đã được phổ biến đến các nước châu Á khác cùng với các chương trình hỗ trợ của Nhật Bản như New Aid Plan năm 1987, chương trình phát triển CNHT châu Á năm 1993” (Nguyễn Thị Xuân Thuý, VDF 2007).
Tại Thái Lan, định nghĩa về CNHT của một số cơ quan, tổ chức cũng có sự khác nhau. Theo MOI định nghĩa: “CNHT là những nhà sản xuất cho linh phụ kiện cho ô tô và điện – điện tử, như gia công kim loại, ép nhựa, khuôn mẫu, đúc, thử nghiệm…. 8 Còn cơ quan Văn phòng phát triển CNHT Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID) định nghĩa CNHT “là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngành CNHT quan trọng”. Trong khi đó, theo Cục phát triển CNHT Thái Lan: “CNHT là các ngành cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản”.
Còn theo Hội đồng đầu tư Thái Lan (BOI 1995) khẳng định: “CNHT là các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp của các ngành công nghiệp ô tô, máy móc cà điện tử”. Có thể thấy, điểm chung trong định nghĩa về CNHT ở Thái Lan đều chỉ các ngành chế tạo và gia công phụ tùng trong lĩnh vực điện tử, điện, ô tô, máy móc là ngành CNHT quan trọng nhất. Trong khi đó, theo (US Department of Energy 2005) Phòng Năng lượng của Hoa Kỳ định nghĩa: “CNHT là những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sử dụng cuối cùng”. Theo định nghĩa này thì ngành CNHT của Mỹ là một số ngành công nghiệp sử dụng năng lượng và cung cấp những sản phẩm cụ thể cho các ngành công nghiệp khác.
Chương trình phát triển ngành CNHT hiện nay ở Mỹ bao gồm 07 ngành: các sản phẩm cacbon, các thiết bị làm nóng công nghiệp; xử lý nhiệt, rèn; hàn, luyện kim và các vật liệu dạng hạt; sứ cao cấp. Có thể thấy, mặc dù các nước có đưa ra những định nghĩa khác nhau về CNHT nhưng về bản chất là giống nhau khi xác định các ngành cung cấp sản phẩm phụ trợ từ bên ngoài cho các ngành công nghiệp chính. Bên cạnh quy định của một số nước tiêu biểu về định nghĩa CNHT, các nhà nghiên cứu cũng có đưa ra những định nghĩa dưới nhiều khía cạnh khác nhau: K. Junichi Mori (2005) cho rằng: “có hai cách định nghĩa về CNHT theo hai cách tiếp cận khác nhau, đó là từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh.
Từ lý thuyết kinh tế, CNHT được định nghĩa như một nhóm các nhà sản xuất các sản phẩm đầu vào. Từ thực tiễn sản xuất kinh doanh, CNHT sản xuất linh kiện, phụ tùng, cũng 9 như máy móc và công cụ để sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng đó”. Nguyễn Thị Xuân Thuý (VDF, 2007) đưa ra khái niệm: “CNHT là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến”. Theo Trần Văn Thọ (2006): “CNHT là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính.
Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v. và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế”. Tại Việt Nam, thuật ngữ về CNHT được sử dụng tương đối muộn. Do trước năm 1986, Việt Nam thực chính sách quy hoạch kinh tế, kế hoạch hóa chỉ thúc đẩy các ngành sản xuất nội bộ hóa tất cả các yếu tố đầu vào trong một cơ cấu hợp nhất theo chiều dọc, có thể là máy nông nghiệp, xe đạp hoặc ô tô.
Các ngành CN này đã được sắp xếp hợp lý hoặc chuyển sang các hoạt động khác kể từ khi thực hiện Đổi mới năm 1986. Do thiếu thông tin cũng như thực tế là các nhà cung cấp trong nước không thể đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, các công ty nước ngoài đã đến Việt Nam vào giữa những năm 1990 có quan điểm cho rằng các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa tồn tại hoặc còn rất sơ khai ở Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc khảo sát do Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) thực hiện năm 2004 cho thấy quan điểm này không hoàn toàn đúng và các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đang phát triển “Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được định nghĩa là “sự hiện diện hoặc vắng mặt trong quốc gia của các ngành cung cấp và các ngành liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế”. Nó bao gồm CNHT và công nghiệp liên quan.
Các ngành CNHT tạo ra lợi thế trong các ngành công nghiệp “hạ nguồn” vì chúng sản xuất ra các yếu tố đầu vào được sử dụng rộng rãi và quan trọng đối với sự đổi mới hoặc quốc tế hóa, trong khi các ngành công nghiệp liên quan là những ngành mà các doanh nghiệp có thể phối hợp hoặc chia sẻ các hoạt động trong chuỗi giá trị khi cạnh tranh hoặc những ngành này liên quan đến các sản phẩm bổ sung. Đến năm 2003, thuật ngữ CNHT được chính thức hoá ghi nhận trong văn bản pháp luật của Việt Nam trong “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành CNHT Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020”. Trong đó, CNHT được định nghĩa “hệ thống CNHT là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng 10 tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng.cho khâu lắp ráp cuối cùng”. Năm 2011, trong Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính Phủ, thì khái niệm CNHT được hiểu là “CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành CN sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh từ tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng” Có thể thấy rằng, các khái niệm về CNHT trên đều có điểm chung là nhấn mạnh đến vai trò và tầm quan trọng của các ngành công nghiệp cung cấp một hoặc nhiều chi tiết, linh kiện đầu vào trong quá trình sản xuất để có thể đưa ra một sản phẩm hoàn chỉnh.
Tuy vậy, mỗi khái niệm khác nhau lại xác định một ranh giới và phạm vi khác nhau cho ngành CNHT. Trên cơ sở phân tích những quan điểm trên, có thể hiểu rằng, CNHT không phải là một ngành công nghiệp tồn tại độc lập, riêng lẻ mà bao gồm nhiều công đoạn, trong nhiều lĩnh vực sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, sản phẩm dưới dạng bán thành phẩm…để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp nhằm tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ Ngành CNHT có mối quan hệ chặt chẽ đến nhiều ngành công nghiệp khác, nên CNHT có những đặc điểm riêng biệt cụ thể như sau: Thứ nhất, ngành CNHT là một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng Mỗi một sản phẩm dù đơn giản hay phức tạp đều trải qua những công đoạn khác nhau từ thiết kế, sản xuất và được cung ứng ra thị trường. Như vậy trong một chuỗi cung ứng đó có rất nhiều thành phần tham gia và CNHT được coi là một mắt xích quan trọng để tạo ra những giá trị của sản phẩm.
CNHT góp phần tăng cường sự liên kết trong chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như da giày, dệt may, điện tử, thủy sản, nông nghiệp. Đồng thời, sự phát triển của CNHT còn có tác dụng thúc đẩy những ngành công nghiệp khác phát triển và thu hút đầu ra của các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ. Thứ hai, ngành CNHT cần nguồn vốn lớn Đặc thù của ngành CNHT là đòi hỏi một lượng vốn khá lớn và cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại để có thể đầu tư và sản xuất ra thành phẩm. Như các sản phẩm trong công nghiệp lắp ráp (ô tô, xe máy, điện tử…) và công nghiệp chế biến (dệt may, 11 giày da…).