CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 1.1 Khái niệm Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa “là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), có quy mô tổng nguồn vốn từ 100 tỷ đồng trở xuống, tổng số lao động từ 300 người trở xuống đối với khu vực nông lâm, thủy sản và công nghiệp - xây dựng, tổng nguồn vốn từ 50 tỷ đồng trở xuống, tổng số lao động từ 100 người trở xuống đối với khu vực thương mại, dịch vụ ”. Theo báo cáo doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2006 – 2011 của Tổng cục thống kê, tính đến hết năm 2011, tổng số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 95% tổng số doanh nghiệp.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam – Tính chất hoạt động kinh doanh: doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở khu vực chế biến và dịch vụ, gần với người tiêu dùng, chủ yếu dưới dạng doanh nghiệp vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, thực hiện các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hóa, dịch vụ sinh hoạt và giải trí hoặc trực tiếp tham gia chế biến sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng. Nhờ vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt, có khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh. – Nguồn lực vật chất: các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bị hạn chế bởi vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ.
Sự khan hiếm về các nguồn lực này do nguồn gốc hình thành doanh nghiệp. Ngoài ra, nhóm doanh nghiệp trên có sự hạn hẹp 5 trong quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích lũy có vai trò quyết định của từng doanh nghiệp. – Năng lực quản lý điều hành: Theo nguồn gốc hình thành doanh nghiệp, các nhà quản trị thường nắm bắt bao quát và hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh. Họ được coi là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu.
Do đó, nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý của nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đạt yêu cầu. – Tính phụ thuộc cao: Do các đặc điểm trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bị thụ động ở các thị trường. Tình trạng phụ thuộc vào thị trường, nhóm doanh nghiệp lớn khiến doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguy cơ phá sản cao thì thị trường biến động xấu.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam – Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp. Căn cứ theo khái niệm tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP thì tính đến hết năm 2011, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 95% tổng số doanh nghiệp (theo Tổng cục thống kê).
– Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi tạo ra việc làm chủ yếu ở Việt Nam: Theo đặc điểm của nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, thực tế tại Việt Nam, ta thấy toàn bộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà phần lớn là khu vực ngoài quốc doanh là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho tất cả các lĩnh vực, sử dụng 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP cho cả nước (theo Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam). – Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động: sự ra đời và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào những nhà sáng lập ra chúng. Do đặc thù là số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn và thường xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường xung quanh, phản ứng với những tác động bất lợi do sự phát triển, xu hướng tích tụ và tập trung hoá sản xuất. Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của đội ngũ này, và chính đội ngũ này sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế năng động, linh hoạt phù hợp với thị trường.
6 – Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ: doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế đã cho thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa phương, giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ.2 Dịch vụ bảo lãnh đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về dịch vụ bảo lãnh đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng, tuy nhiên về bản chất và phương thức thực hiện đều thể hiện bên bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện thay nghĩa vụ của bên được bảo lãnh cho bên thụ hưởng khi bên được bảo lãnh không thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng đã cam kết với bên thụ hưởng. – Theo Phan Thị Thu Hà (2013): “Cam kết bảo lãnh” là văn bản bảo lãnh của tổ chức tín dụng, bao gồm: + “Thư bảo lãnh”: là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. + “Hợp đồng cấp bảo lãnh”: là văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng và các bên liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho khách hàng.
– Theo Khoản 18, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Bảo lãnh Ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”. – Theo Điều 361 Bộ luật dân sự: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây được gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.2 Đặc điểm và vai trò của bảo lãnh đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Đặc điểm của bảo lãnh – Thứ nhất, bảo lãnh Ngân hàng là nghiệp vụ ngoại bảng (Phan Thị Thu Hà, 2013): Ngân hàng bảo lãnh trên cơ sở sử dụng uy tín của mình để cam kết với bên nhận bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ đầy đủ và đúng hạn của bên được bảo lãnh. Tại thời điểm phát hành bảo lãnh, Ngân hàng không phải xuất tiền ngay để thực hiện dịch vụ nên nghiệp vụ bảo lãnh không làm thay đổi bảng cân đối kế toán của Ngân hàng.
– Thứ hai, bảo lãnh Ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau (Hồ Diệu, 2001) + Bảo lãnh thể hiện mối quan hệ giữa Ngân hàng (bên bảo lãnh), khách hàng (bên được bảo lãnh) và bên nhận bảo lãnh thông qua các hợp đồng độc lập. + Hợp đồng kinh tế giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh, xác định nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh phải thực hiện, là căn cứ xác định giá trị, thời điểm mà Ngân hàng phải thực hiện trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. + Hợp đồng bảo lãnh thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Theo đó, Ngân hàng sử dụng uy tín cam kết thực hiện nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện được.
Ngược lại, bên được bảo lãnh cam kết thực hiện các điều khoản đảm bảo Ngân hàng quản lý được quá trình thực hiện như cung cấp báo cáo tiến độ, chuyển doanh thu… – Thứ ba, tính độc lập tương đối của bảo lãnh (Phan Thị Thu Hà, 2013): Bảo lãnh được phát sinh từ hợp đồng kinh tế, là cơ sở đảm bảo quyền lợi cho bên nhận bảo lãnh, tuy nhiên vẫn có sự độc lập tương đối so với hợp đồng. Việc thanh toán bảo lãnh căn cứ vào các điều khoản quy định trong thư bảo lãnh. Bên thụ hưởng được quyền đòi tiền Ngân hàng khi đáp ứng các điều kiện quy định trong thư bảo lãnh. Trong thực tế, tính độc lập của bảo lãnh thể hiện rõ nhất khi sử dụng sinh mẫu thư bảo lãnh theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh “đòi tiền thanh toán mà không cần chứng từ chứng minh”.
Ngược lại, tính độc lập của bảo lãnh giảm sút khi sử dụng mẫu thư có quy định điều khoản đòi tiền thanh toán khi bên nhận bảo lãnh 8 cung cấp chứng từ chứng minh vi phạm hợp đồng. Ngân hàng thường ưa thích mẫu thư có quy định điều kiện như trên để đảm bảo uy tín và lợi ích khi thực hiện tài trợ.2 Chức năng của bảo lãnh – Thứ nhất, bảo lãnh được dùng như công cụ bảo đảm (Hồ Diệu, 2001): Đây chính là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh, đảm bảo quyền lợi cho bên thụ hưởng. Trong giao dịch kinh tế, xây dựng, việc bảo đảm của các Ngân hàng cho đối tác, đặc biệt là các đối tác nước ngoài hoặc đối tác lần đầu giao dịch tạo ra tính chắc chắn cho giao dịch, sự tin tưởng cho người nhận bảo lãnh. Với chức năng này, bảo lãnh thực sự đã gắn kết các đối tác giữa các quốc gia khác nhau, các đối tác lần đầu giao dịch, thúc đẩy giao dịch thương mại, xây dựng… – Thứ hai, bảo lãnh với vai trò như công cụ tài trợ (Phan Thị Thu Hà, 2013): Thông qua bảo lãnh Ngân hàng, bên được bảo lãnh có thể được chiếm dụng vốn của đối tác như sử dụng tiền tạm ứng từ bên nhận bảo lãnh, được trả chậm tiền thanh toán…, tạo điều kiện thuận lợi thực hiện thành công hợp đồng.