phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng : CHƢƠNG 1 : Những vấn đề chung trong hoạt động cho vay xuất khẩu của Ngân hàng thƣơng mại CHƢƠNG 2 : Thực trạng hoạt động cho vay xuất khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam CHƢƠNG 3 : Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay xuất khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam 7. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài : Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp thông tin về thực trạng hoạt động cho vay xuất khẩu và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay xuất khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam. Tác giả mong muốn áp dụng kết quả này vào thực tiễn nhằm từng bƣớc hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng của hoạt động cho vay xuất khẩu. Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Ngân hàng và nhân viên công tác tại Ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho NHTM.
Rủi ro này có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng. Do vậy, các ngân hàng phải cân nhắc kỹ lƣỡng, ƣớc lƣợng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định cho vay. Đặc điểm của hoạt động cho vay Cho vay là một hoạt động phức tạp của NHTM, thƣờng xuyên chịu sự tác động của môi trƣờng kinh tế. Nhƣng về bản chất, hoạt động cho vay của NHTM có ba đặc điểm sau : Thứ nhất, cho vay là sự cung cấp một lƣợng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin.
Điều đó có nghĩa là NHTM tin tƣởng ngƣời đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả đƣợc nợ. Thứ hai, cho vay là sự chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng vốn trong một thời hạn xác định. Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, NHTM thƣờng xác định rõ thời hạn cho vay. Việc xác định thời hạn cho vay dựa vào quá trình luân chuyển vốn của ngƣời đi vay và tính chất vốn của NHTM.
Về quá trình luân chuyển vốn của ngƣời vay : Thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của ngƣời vay thì lúc đó ngƣời vay mới có điều kiện để trả nợ. Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn thì khi đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 hạn, khách hàng chƣa có nguồn thu để trả nợ. Ngƣợc lại, nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn sai mục đích và không có nguồn để trả nợ. Về tính chất vốn của NHTM : nếu vốn của NHTM ổn định (vốn trung – dài hạn chiếm tỷ trọng lớn hoặc khả năng huy động vốn tốt) thì thời hạn cho vay có thể dài hơn, ngƣợc lại thì thời hạn cho vay phải ngắn hơn để đảm bảo khả năng thanh khoản của NHTM.
Thứ ba, cho vay là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi. Vì vốn cho vay của NHTM là vốn huy động của những ngƣời tạm thời có vốn nhàn rỗi nên sau một thời gian nhất định NHTM phải trả lại cho họ. Mặt khác, NHTM phải có nguồn để trả lãi cho ngƣời gửi tiền cũng nhƣ bù đắp chi phí hoạt động nên ngƣời vay vốn ngoài việc phải trả nợ gốc còn phải trả cho NHTM một khoản lãi. Nguyên tắc cho vay Một là : Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và có hiệu quả kinh tế.
Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hƣớng đến mục tiêu và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Đối với các đơn vị kinh tế tín dụng cũng phải đáp ứng các mục đích cụ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh để thúc đẩy các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình. Tín dụng đúng mục đích và có hiệu quả không những là nguyên tắc mà còn là phƣơng châm hoạt động của tín dụng. Hiệu quả đó trƣớc hết là đẩy nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tạo ra nhiều khối lƣợng sản phẩm, dịch vụ, đồng thời tạo ra nhiều tích lũy để thực hiện tái sản xuất mở rộng.
Hai là : Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho các ngân hàng thƣơng mại tồn tại và hoạt động một cách bình thƣờng. Bởi vì nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 yếu là nguồn vốn huy động. Đó là một bộ phận tài sản của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng; ngân hàng cũng có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng mà họ yêu cầu.
Nếu các khoản tín dụng không đƣợc hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng. Hoạt động cho vay xuất khẩu của ngân hàng thƣơng mại 1. Xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế Cùng với tiến trình toàn cầu hóa và xu thế hội nhập, một quốc gia muốn phát triển không thể chỉ dựa vào sản xuất trong nƣớc mà còn phải mở rộng quan hệ giao thƣơng trên thị trƣờng thế giới. Nếu mỗi quốc gia chỉ đóng của nền kinh tế của mình, áp dụng phƣơng thức nền kinh tế tự cung tự cấp thì không bao giờ có cơ hội để vƣơn lên, củng cố thế lực của mình trên thị trƣờng quốc tế và nâng cao đời sống nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là một tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế. Do có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên nhƣ tài nguyên, khí hậu. mà mỗi quốc gia có thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định. Để có thể dung hòa đƣợc nguy cơ và lợi thế, tạo ra đƣợc sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau, bán những gì mình thừa và mua những gì mình thiếu.
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai mặt chính của hoạt động ngoại thƣơng, nhƣng hầu hết các quốc gia đều tìm mọi biện pháp khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, đồng thời cố gắng hạn chế nhập khẩu nhằm bảo hộ sản phẩm trong nƣớc. Xuất khẩu thƣờng đƣợc xem là một trong những mũi nhọn then chốt trong chiến lƣợc phát triển kinh tế quốc gia, giúp cho các quốc gia mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, góp phần tạo nguồn thu ngoại tệ phục vụ sản xuất các hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc, nâng cao mức sống ngƣời dân. Là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất khẩu đã trở thành phƣơng tiện để thúc đẩy phát triển kinh tế. Thực tiễn đã xác định xuất khẩu có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển kinh tế của một đất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Xuất khẩu đƣợc đánh giá quan trọng nhƣ vậy là do : Một là, xuất khẩu tạo đã tạo nguồn vốn ngoại tệ cho nền kinh tế, phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Công nghiệp hóa với những bƣớc đi phù hợp là con đƣờng tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu. Tuy nhiên, công nghiệp hóa đòi hỏi phải có số lƣợng lớn vốn để nhập khẩu những máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến mà trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc thì cần phải có nguồn vốn ngoại tệ lớn để thực hiện. Để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, hàng hóa tiêu dùng mà trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc thì cần phải có nguồn vốn ngoại tệ lớn để thực hiện.
Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu từ các nguồn : xuất khẩu, đầu tƣ nƣớc ngoài, vay vốn, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, các dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động. Trong đó nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu là nguồn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho nền kinh tế. Ở những nƣớc kém phát triển với một nguyên nhân chủ yếu là thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển, nguồn vốn huy động từ nƣớc ngoài đƣợc coi là cơ sở chính nhƣng mọi cơ hội đầu tƣ hoặc vay nợ của nƣớc ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tƣ và ngƣời cho vay thấy đƣợc khả năng trả nợ của đất nƣớc, trong đó họ rất chú trọng tới hoạt động xuất khẩu của nƣớc đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nƣớc này có thể trả đƣợc nợ. Hai là, xuất khẩu đóng góp vào quá trình dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông qua hoạt động xuất khẩu các quốc gia hƣớng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu đã đề ra. Các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu tạo cơ hội cho phát triển các ngành xuất khẩu nguyên liệu nhƣ bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến.
Xuất khẩu giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ngành liên quan khác. Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trƣờng tiêu thụ, giúp cho sản xuất ổn định và kinh tế phát triển. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nƣớc.