Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững kinh tế trang trại NTTS 1. Khái niệm về trang trại, kinh tế trang trại * Khái niệm trang trại Trang trại là một đơn vị kinh doanh nông nghiệp, được phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân, có hình thức tổ chức sản xuất cơ sở tập trung nông, lâm, thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiến bộ. * Kinh tế trang trại Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở qui mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn và kỹ thuật, có thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường.
* Trang trại nuôi trồng thủy sản Trang trại NTTS là trang trại sản xuất kinh doanh thủy sản, được phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân, có hình thức tổ chức sản xuất cơ sở tập trung thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có quy mô về mặt nước, mặt đất và các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiến bộ. Phân loại và tiêu chí xác định kinh tế trang trại * Phân loại trang trại Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNN&PTNT ngày 13/4/2011 Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau: Trang trại trồng trọt; Trang trại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 chăn nuôi; Trang trại lâm nghiệp; Trang trại nuôi trồng thuỷ sản; Trang trại SXKD tổng hợp. * Tiêu chí xác định kinh tế trang trại - Theo Thông tư số 27, tiêu chí xác định kinh tế Trang trại: Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: + Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
+ Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm. - Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên; - Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên. Tăng trưởng và phát triển * Tăng trưởng: Tăng trưởng là một vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay của các quốc gia trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng. Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật nhất định.
Trong nền kinh tế, tăng trưởng được thể hiện sự gia tăng hơn trước về sản phẩm hay số lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế còn được phản ánh bằng tốc độ gia tăng của các đại lượng trong các giai đoạn với nhau và được đo bằng phần trăm thay đổi, giá trị phần trăm cao hay thấp thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm… * Phát triển: Tăng trưởng là tăng về số lượng, còn phát triển không những tăng về số lượng mà còn phong phú hơn về chủng loại, chất lượng và phù hợp hơn về cơ cấu, phân bố của cải. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ,…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định.
Phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai. Phát triển bền vững đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia. Mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hoá… riêng của mình để hoạch định chiến lược phù hợp nhất. Ngày nay khái niệm bền vững phải nhằm hướng tới: Bền vững về kinh tế, bền vững về chính trị, xã hội và bền vững về môi trường.
Nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của loài người. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về sự phát triển bền vững, trong đó định nghĩa được nhắc đến nhiều nhất là định nghĩa của Uỷ ban Thế giới (WCED-World commission on the Environment and Development) về Môi trường & Phát triển đưa ra năm 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam, sửa đổi năm 2005: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Như vậy, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển về 3 mục tiêu: Kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Phát triển bền vững kinh tế trang trại NTTS Để phát triển kinh tế trang trại NTTS theo hướng bền vững đó là việc phát triển kinh tế phải đảm bảo được hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường cụ thể như sau: * Hiệu quả kinh tế: Yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững. Nó thúc đẩy sự phát triển của cả hệ thống kinh tế, tạo cơ hội tiếp xúc với những nguồn tài nguyên một cách thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ một cách bình đẳng. Yếu tố được chú trọng ở đây phải là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người. Hiệu quả kinh tế phản ánh mối tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra.
Nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế và hoạt động sản xuất. * Hiệu quả xã hội: Là mối tương quan so sánh giữa kết quả của các lợi ích về xã hội và tổng chi phí xã hội. Kết quả của các lợi ích xã hội như cải thiện điều kiện làm việc, điều kiện sống, tăng việc làm, giải quyết thỏa đáng giữa các lợi ích xã hội. Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 * Hiệu quả về môi trường: Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất. * Hiệu quả phát triển bền vững: Là hiệu quả kinh tế xã hội có được do những tác động hợp lý để tạo ra nhịp điệu tăng trưởng tốt và đảm bảo những lợi ích kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường ở hiện tại và tương lai. Nội dung phát triển bền vững kinh tế trang trại NTTS 1. Phát triển số lượng các trang trại Phát triển số lượng trang trại là việc gia tăng số lượng các trang trại qua các năm theo hướng năm sau nhiều hơn năm trước.
Đồng thời quy mô cũng ngày càng được gia tăng; việc gia tăng số lượng được thể hiện trước hết là cả tăng về số tuyệt đối và tương đối, song chỉ tiêu quan trọng là số lượng tuyệt đối. Gia tăng các yếu tố nguồn lực Nguồn lực đất đai: Đất đai vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng lao động của các trang trại, đây là yếu tố cần được mở rộng về quy mô diện tích, nâng cao chất lượng. Nguồn nhân lực: Đòi hỏi kiến thức và tình độ, khả năng lao động của chủ trang trại và người lao động trong các trang trại ngày càng được nâng cao, phát huy được trí tuệ, năng lực trong quản lý điều hành và trực tiếp sản xuất kinh doanh. Nguồn lực tài chính (vốn đầu tư): Nâng cao khả năng huy động vốn và khả năng tự tài trợ của trang trại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.