phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của Luận văn gồm ba chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bảo lãnh ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam Chi nhánh 7 Tp. HCM Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Vietinbank. Qua luận văn tôi xin gởi lời chân thành cảm ơn đến Thầy cô Trƣờng Đại học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi vốn kiến thức quý báu trong suốt thời gian học vừa qua.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Thành Lân đã tận tình chỉ bảo, hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về bảo lãnh ngân hàng: 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo lãnh ngân hàng: Hoạt động bảo lãnh đã có từ thời Hy Lạp cổ đại trong những giao dịch nhỏ lẻ, dù rất sơ khai. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, bảo lãnh ngân hàng bắt đầu thông dụng tại các nƣớc Tây Âu và Hoa Kỳ.
Sang thập niên 70, mậu dịch quốc tế ngày càng phát triển, đã gia tăng nhu cầu đa dạng hóa và hợp pháp hóa công cụ tài trợ. Và bảo đảm quốc tế, đƣợc tin tƣởng, nhờ tính vừa chắc chắn vừa linh hoạt phù hợp với tập quán quốc tế đồng thời không trái với luật pháp quốc gia. Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng đƣợc các yêu cầu này và đƣợc sử dụng ngày càng phổ biến. Khác với tập quán tại các nƣớc Tây Âu, luật pháp Hoa Kỳ lúc bấy giờ dành nghiệp vụ bảo lãnh cho các công ty bảo hiểm.
Các ngân hàng Mỹ phải sử dụng thƣ tín dụng dự phòng (Standby-LC) thay cho thƣ bảo lãnh ngân hàng. Ngày nay, bảo lãnh ngân hàng đƣợc sử dụng rộng rãi và đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển kinh tế tại các quốc gia, các khu vực và trên toàn thế giới. Doanh số phát hành bảo lãnh ngân hàng gia tăng nhanh chóng. Bảo lãnh ngân hàng còn đƣợc dùng khá phổ biến trong giao dịch kinh tế và dân sự ở các quốc gia đang phát triển.
Hơn nữa, hầu hết các giao dịch quốc tế lớn đều có kèm theo bảo lãnh ngân hàng. Tại Việt Nam, trƣớc 1975, các ngân hàng ở Sài Gòn đã cung cấp dịch vụ bảo lãnh. Sau đó, dịch vụ này đƣợc khôi phục từ cuối thập niên 80, khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng. Khi nền kinh tế mở cửa để hội nhập vào khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và bảo lãnh ngân hàng phát triển theo nhƣ một tất yếu khách quan.
Nhƣng, do thiếu cơ sở pháp lý thống nhất, dịch vụ bảo lãnh ngân hàng thời kỳ này chƣa hiệu quả. Từ năm 1994-1995, dịch vụ bảo lãnh dần đƣợc hoàn thiện nhờ việc ban hành một số quy định thống nhất. Sau đó, cùng với xu hƣớng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nƣớc, bảo lãnh ngân hàng đã nhanh chóng phát triển. Tỷ lệ tăng trƣởng hàng năm về doanh số phát hành và số dƣ bảo 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lãnh của các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) ngày càng cao, hình thức bảo lãnh ngày càng đa dạng, cho thấy tiềm năng phát triển của dịch vụ này rất lớn.
Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), cơ hội hợp tác và mở rộng thƣơng mại quốc tế ngày càng nhiều, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính - ngân hàng ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ bảo lãnh ngân hàng phát triển mạnh.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng: Hiện nay, thuật ngữ bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee) chƣa đƣợc định nghĩa một cách thống nhất trong luật pháp và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, bảo lãnh ngân hàng có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng, theo đó, định chế tài chính phát hành (the Guarantor) cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh (the Beneficiary) thay cho khách hàng (the Principal) khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Tại Việt Nam, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) ngày 15/06/2004, bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đƣợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã đƣợc trả thay. Trong thƣơng mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng đƣợc xem nhƣ một loại hình tài trợ ngoại thƣơng nhằm chống đỡ những tổn thất của bên nhận bảo lãnh khi đối tác vi phạm cam kết.
Trong thực tế, bất cứ chủ thể nào – thể nhân hay pháp nhân - có đầy đủ năng lực pháp lý, năng lực hành vi và năng lực tài chính đều có thể phát hành thƣ bảo lãnh đối tƣợng khác. Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu bảo lãnh do NHTM phát hành. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NHTM là một loại hình TCTD, đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận (mục tiêu chính) và góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nƣớc.3 Phân biệt giữa bảo lãnh trong nƣớc và bảo lãnh nƣớc ngoài: Đối với các ngân hàng đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam cho phép thực hiện thanh toán quốc tế đƣợc thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh khác với bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài. Vì vậy, việc thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh nƣớc ngoài phải đƣợc phép của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam qua Giấy phép kinh doanh ngoại hối, đƣợc thể hiện thành cụm từ “Authorized exchange bank” kèm theo tên thƣơng hiệu.
So với bảo lãnh trong nƣớc thì bảo lãnh nƣớc ngoài có một số những khác biệt sau: Đối tƣợng đƣợc bảo lãnh là các doanh nghiệp vay vốn nƣớc ngoài theo hình thức tự vay, tự trả và doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phù hợp với Luật đầu tƣ nƣớc ngoài (gọi chung là doanh nghiệp) đƣợc quy định tại Quy chế quản lý vay và trả nợ nƣớc ngoài ban hành kèm theo Nghị định 58-CP ngày 30-8- 1993 của Chính phủ. Về điều kiện bảo lãnh: so với bảo lãnh trong nƣớc thì trong bảo lãnh nƣớc ngoài doanh nghiệp phải chấp hành quy chế quản lý vay và trả nợ nƣớc ngoài của Chính phủ, khoản vay xin bảo lãnh phải nằm trong kế hoạch tổng hạn mức vay nƣớc ngoài đƣợc Chính phủ duyệt, đồng thời phải có hợp đồng vay vốn nƣớc ngoài. Về cơ sở pháp lý, bảo lãnh trong nƣớc chịu sự điều chỉnh của Luật Dân sự cùng các bộ luật khác của nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Bảo lãnh ra nƣớc ngoài còn phải cân nhắc mối tƣơng quan giữa luật tại các quốc gia liên quan và các thông lệ cùng tập quán quốc tế hiện hành.
Về ngôn từ sử dụng thì bảo lãnh trong nƣớc đƣợc soạn bằng tiếng bản xứ trong khi bảo lãnh quốc tế đƣợc soạn bằng ngoại ngữ, thƣờng là tiếng Anh. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Một số lƣu ý đối với bảo lãnh nƣớc ngoài Trong giao dịch bảo lãnh khi có bên nƣớc ngoài tham gia, phải lƣu ý mấy điểm sau: Trong các điều ƣớc quốc tế về bảo lãnh mà nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia nếu có quy định khác với quy định tại Quy chế Bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Thống đốc NHNN, thì áp dụng quy định tại điều ƣớc quốc tế đó. NHBL có thể thỏa thuận với khách hàng, bên nhận bảo lãnh áp dụng các quy tắc, tập quán và thông lệ quốc tế về bảo lãnh ngân hàng nếu các quy tắc, tập quán và thông lệ đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam (URCG 325, URDG 458 đối với bảo lãnh; UCP, ISP 98 đối với thƣ tín dụng dự phòng). NHBL và các bên liên quan có thể thỏa thuận Luật áp dụng, tòa án hoặc trọng tài nƣớc ngoài sẽ giải quyết tranh chấp phát sinh đối với giao dịch bảo lãnh, nếu việc thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam.
Trong trƣờng hợp khách hàng, bên nhận bảo lãnh và các bên liên quan (nếu có) không yêu cầu cụ thể về Luật áp dụng, tòa án hoặc trọng tài nƣớc ngoài để giải quyết tranh chấp phát sinh, NHBL tham chiếu áp dụng Luật Việt Nam, chỉ định giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam trong HĐCBL, cam kết bảo lãnh.5 Các hình thức bảo lãnh nƣớc ngoài Dịch vụ bảo lãnh nƣớc ngoài của ngân hàng Việt Nam đƣợc cung cấp cho các doanh nghiệp dƣới các hình thức: -Mở thƣ tín dụng mua hàng trả chậm; -Ký bảo lãnh trên các hối phiếu nhận nợ với nƣớc ngoài ( trừ trƣờng hợp Ngân hàng Nhà nƣớc nhận bảo lãnh) -Phát hành thƣ bảo lãnh hay thƣ tín dụng dự phòng. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ với nƣớc ngoài (hoặc xác nhận vào giấy do khách hàng lập, đối với trƣờng hợp Ngân hàng Nhà nƣớc nhận bảo lãnh) Ngoài lợi ích tăng thêm mức độ tin cậy của đối tác trong việc thực hiện hợp đồng cùng các giao dịch mua bán, cung cấp sản phẩm…, doanh nghiệp còn đƣợc gia tăng cơ hội vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đặc biệt là vay vốn của các tổ chức nƣớc ngoài với lãi suất thấp, thời gian dài, còn đƣợc ân hạn (ngoại trừ rủi ro hối đoái) khi có một ngân hàng đứng ra bảo lãnh. Đối với Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam, khi bảo lãnh cho khách hàng là tổ chức, cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài hoặc phát hành bảo lãnh ra nƣớc ngoài (Bên nhận bảo lãnh cƣ trú ở nƣớc ngoài), trừ trƣờng hợp khách hàng ký quỹ hoặc có TSĐB là sổ tiết kiệm, các giấy tờ có giá do NHCT, các TCTD, tài chính khác phát hành đảm bảo cho 100% giá trị bảo lãnh thì ở mỗi chi nhánh nếu xét thấy dự án, phƣơng án hiệu quả, khách hàng có đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ đƣợc bảo lãnh, Hội đồng tín dụng cở sở trình Tổng Giám đốc NHCT xem xét, và Chi nhánh chỉ đƣợc phát hành bảo lãnh sau khi nhận đƣợc chấp thuận bằng văn bản của Tổng Giám đốc.