Luận văn thạc sĩ: Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long nhằm nâng cao an sinh xã hội địa phương.

Trường đại học

Trường Đại học Cửu Long

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Tác giả

Huỳnh Văn Hương

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

123
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn

Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện giữ vai trò then chốt trong hệ thống an sinh xã hội địa phương. Tại huyện Trà Ôn, chính sách này mở ra cơ hội thiết thực cho nông dân và lao động tự do. Người tham gia được chủ động lựa chọn mức đóng phù hợp thu nhập hàng tháng. Khoản tích lũy giúp người dân hình thành quỹ hưu trí vững chắc khi về già. Khi đủ điều kiện, công dân nhận lương hưu đều đặn và thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Dù vậy, tỷ lệ người dân tham gia tại huyện Trà Ôn vẫn còn ở mức khiêm tốn. Đa số lao động nông thôn có thu nhập bấp bênh từ canh tác nông nghiệp. Nhận thức của nhiều người dân về lợi ích an sinh lâu dài chưa thật sự sâu sắc. Thói quen dự phòng tài chính của người dân địa phương còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp là yêu cầu cấp thiết. Điều này góp phần củng cố lưới an sinh xã hội bền vững cho toàn huyện.

1.1. Bản chất và vai trò của chính sách an sinh xã hội

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là trụ cột căn bản của an sinh quốc gia. Chính sách tạo cơ chế bảo vệ tài chính cho người dân khi suy giảm khả năng lao động. Khác với bảo hiểm bắt buộc, loại hình này dựa trên tinh thần tự nguyện tham gia của công dân. Nhà nước áp dụng cơ chế hỗ trợ một phần mức đóng nhằm khuyến khích diện bao phủ. Tại cấp huyện, chính sách giảm thiểu nguy cơ tái nghèo cho người già nông thôn. Nguồn quỹ tích lũy tạo sự san sẻ rủi ro giữa các thành viên xã hội. Nhờ đó, gánh nặng ngân sách trợ cấp xã hội trực tiếp giảm đi đáng kể. Đây là phương thức đầu tư an sinh có tính bền vững cao.

1.2. Đặc điểm kinh tế và cơ cấu lao động tại huyện Trà Ôn

Huyện Trà Ôn mang đặc trưng rõ nét của vùng nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long. Dân số địa phương chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn với nghề làm nông và tiểu thủ công nghiệp. Lao động phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu việc làm của huyện. Mức thu nhập bình quân của nông dân phụ thuộc nhiều vào thời vụ mùa màng và biến động thị trường nông sản. Tính chất bấp bênh này tạo ra tâm lý e ngại khi cam kết các khoản đóng góp định kỳ dài hạn. Tuy nhiên, Trà Ôn sở hữu tiềm năng lớn về lực lượng lao động trong độ tuổi có nhu cầu an sinh. Việc nắm bắt đặc thù dân cư giúp cơ quan quản lý thiết kế lộ trình vận động phù hợp.

II. Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn

Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, công tác phát triển đối tượng bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn ghi nhận nhiều nỗ lực tích cực. Cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã, thị trấn mở rộng mạng lưới tuyên truyền. Số lượng người tham gia có xu hướng tăng dần theo từng năm nhờ các chính sách hỗ trợ đóng từ ngân sách nhà nước. Dẫu vậy, số lượng đối tượng tham gia thực tế vẫn còn cách xa mục tiêu kế hoạch đề ra. Tỷ lệ bao phủ trong lực lượng lao động nông thôn chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Nhiều người sau thời gian đóng ngắn hạn đã dừng tham gia do khó khăn tài chính. Mạng lưới đại lý thu phân bố chưa đều khắp các ấp xa trung tâm. Kỹ năng tư vấn của đội ngũ nhân viên đại lý thu còn nhiều hạn chế, chưa giải đáp thấu đáo băn khoăn của người dân. Thủ tục hành chính dù cải cách nhưng vẫn gây tâm lý ngần ngại cho người lớn tuổi. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về quyền lợi hưu trí chưa đồng đều. Đa phần người lao động vẫn ưu tiên tích lũy bằng hiện vật hoặc vàng thay vì bảo hiểm xã hội.

2.1. Khó khăn từ biến động thu nhập và thói quen tích lũy

Thu nhập của người dân huyện Trà Ôn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp và dịch vụ nhỏ lẻ. Biến đổi khí hậu cùng dịch bệnh cây trồng, vật nuôi thường xuyên đe dọa sinh kế của nông dân. Giá cả nông sản bấp bênh khiến nguồn tài chính gia đình thiếu ổn định theo từng tháng. Đa số người lao động ưu tiên giải quyết các nhu cầu chi tiêu sinh hoạt trước mắt. Thói quen tích lũy tiền mặt hoặc mua sắm tài sản có tính thanh khoản cao vẫn chiếm ưu thế. Cam kết đóng phí định kỳ trong thời gian dài hai mươi năm tạo tâm lý e ngại. Khi gặp biến cố tài chính bất ngờ, người dân có xu hướng bỏ dở hợp đồng bảo hiểm. Rào cản tâm lý này khiến tỷ lệ duy trì tham gia còn thấp.

2.2. Những hạn chế trong công tác truyền thông và đại lý thu

Công tác thông tin về chính sách an sinh tại huyện Trà Ôn còn mang nặng tính hành chính một chiều. Các hội nghị tuyên truyền tập trung thường khó thu hút nông dân do trùng lịch mùa vụ bận rộn. Nội dung tài liệu tuyên truyền chưa thật sự đơn giản và dễ hiểu đối với người dân lao động. Đội ngũ nhân viên đại lý thu tại các bưu điện và trạm y tế xã còn kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Họ thiếu kỹ năng phân tích hành vi khách hàng và nghệ thuật vận động thuyết phục. Chế độ thù lao cho đại lý thu chưa đủ hấp dẫn để tạo động lực tìm kiếm đối tượng mới. Nhiều người dân ở vùng sâu chưa tiếp cận được thông tin minh bạch về mức hưởng lương hưu.

III. Nhóm giải pháp tăng bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn

Để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn, cơ quan quản lý cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết, công tác truyền thông chính sách cần chuyển dịch mạnh mẽ từ hình thức thụ động sang tiếp cận trực tiếp từng hộ gia đình. Cán bộ bảo hiểm xã hội phải phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể địa phương như Hội Phụ nữ và Hội Nông dân để vận động hội viên. Thứ hai, việc củng cố chất lượng hoạt động của hệ thống đại lý thu đóng vai trò then chốt. Cần chuẩn hóa quy trình tuyển chọn và tổ chức tập huấn chuyên sâu về kỹ năng giao tiếp, phân tích tâm lý người dân. Mức chi trả thù lao cho đại lý thu cũng cần điều chỉnh linh hoạt nhằm tạo động lực gắn bó lâu dài. Thứ ba, cơ quan quản lý cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong khâu đăng ký và nộp tiền bảo hiểm. Việc mở rộng các kênh nộp tiền trực tuyến và liên kết tài khoản ngân hàng giúp người dân tiết kiệm thời gian đi lại. Cuối cùng, chính quyền địa phương nên nghiên cứu cơ chế trích ngân sách huyện để hỗ trợ thêm mức đóng cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

3.1. Đổi mới hình thức tuyên truyền và tiếp cận theo nhóm đích

Chiến lược truyền thông cần hướng đến đúng đối tượng theo từng phân khúc thị trường lao động. Cơ quan bảo hiểm cần phân chia người dân thành các nhóm cụ thể như nông dân sản xuất giỏi, tiểu thương chợ truyền thống hay thợ thủ công. Mỗi nhóm đối tượng cần áp dụng thông điệp tư vấn và ví dụ minh họa riêng biệt. Nội dung tuyên truyền phải nhấn mạnh trực quan quyền lợi lương hưu và thẻ bảo hiểm y tế suốt đời. Cán bộ tuyên truyền nên phối hợp cùng các già làng, người có uy tín trong ấp để lan tỏa thông tin. Việc tổ chức các buổi tư vấn nhóm nhỏ tại nhà văn hóa ấp giúp người dân dễ dàng thảo luận và tháo gỡ băn khoăn trực tiếp.

3.2. Nâng cao năng lực và chuẩn hóa nghiệp vụ mạng lưới đại lý

Mạng lưới đại lý thu đóng vai trò cầu nối then chốt giữa cơ quan an sinh và người dân. Huyện Trà Ôn cần tổ chức định kỳ các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ đại lý cơ sở. Nội dung đào tạo tập trung vào cập nhật chính sách mới và kỹ năng xử lý phản đối từ người dân. Nhân viên đại lý cần được trang bị công cụ quản lý để dễ dàng theo dõi lịch đóng phí của khách hàng. Đồng thời, cơ quan bảo hiểm huyện phải thiết lập tiêu chí đánh giá thi đua rõ ràng. Các cá nhân đạt thành tích xuất sắc cần được khen thưởng kịp thời. Điều này tạo động lực thúc đẩy mạng lưới thu phát triển vững chắc.

IV. Định hướng mở rộng bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn

Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện là nhiệm vụ chính trị quan trọng đối với sự ổn định kinh tế của huyện Trà Ôn. Sự thành công của chính sách không chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu số lượng người tham gia trước mắt. Mục tiêu cốt lõi hướng đến việc bảo đảm thu nhập bền vững cho người dân nông thôn khi hết tuổi lao động. Các giải pháp đề xuất cần được các cấp chính quyền triển khai linh hoạt và đồng bộ theo từng năm. Cơ quan quản lý phải duy trì giám sát chặt chẽ hoạt động thu nộp nhằm hạn chế tình trạng người dân ngừng tham gia giữa chừng. Việc ứng dụng công nghệ số và liên kết đa ngành sẽ tối ưu hóa hiệu quả hoạt động an sinh. Bên cạnh đó, các mô hình tiết kiệm tham gia an sinh trong các hội đoàn thể cần được nhân rộng mạnh mẽ. Khi người dân nhận thức đầy đủ lợi ích và có niềm tin tuyệt đối, diện bao phủ an sinh sẽ tự khắc mở rộng. Đây chính là bệ đỡ vững chắc giúp địa phương giảm thiểu rủi ro xã hội trong tiến trình già hóa dân số tương lai.

4.1. Khả năng nhân rộng các mô hình tiết kiệm bảo hiểm vi mô

Các mô hình tiết kiệm tham gia an sinh đã chứng minh tính hiệu quả cao tại nhiều xã điểm. Hội Phụ nữ và Hội Nông dân huyện Trà Ôn có thể xây dựng các tổ tương trợ tiết kiệm mua bảo hiểm xã hội. Thành viên trong tổ cùng đóng góp định kỳ hàng tuần hoặc hàng tháng để hỗ trợ nhau nộp phí an sinh. Cách làm này giảm bớt áp lực tài chính đóng dồn một lần đối với những gia đình có nguồn thu nhập bấp bênh. Đồng thời, tinh thần đoàn kết nội bộ trong khu dân cư được tăng cường rõ rệt. Khi một cá nhân trong tổ nhận lương hưu hoặc quyền lợi bảo hiểm, sự tin tưởng sẽ lan tỏa tự nhiên đến cộng đồng. Đây là đòn bẩy thúc đẩy mở rộng diện bao phủ hiệu quả.

4.2. Vai trò lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương

Sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy Đảng và Ủy ban nhân dân huyện Trà Ôn giữ vai trò then chốt nhất. Việc mở rộng diện bao phủ an sinh cần được đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế hằng năm của từng xã. Các ban ngành đoàn thể phải coi công tác phát triển đối tượng tham gia là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên. Cần nâng cao tinh thần gương mẫu đi đầu của cán bộ, đảng viên trong việc vận động người thân tham gia chính sách. Đồng thời, chính quyền cần tạo điều kiện ngân sách nhằm hỗ trợ thêm mức đóng cho các hộ cận nghèo. Việc kiểm tra, đánh giá thi đua định kỳ giữa các đơn vị cơ sở sẽ thúc đẩy tinh thần trách nhiệm. Nhờ đó, chính sách an sinh sớm đi sâu vào đời sống nhân dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

02/11/2026
Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện trà ôn tỉnh vĩnh long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện Chương 2: Thực trạng phát triển BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Chương 3: Một số giải pháp phát triển BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long. 12 Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan khung lý thuyết về phát triển BHXH TN và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXH TN của người dân. Đồng thời, trình bày các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và mô tả các biến.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về phát triển Triết học duy vật biện chứng cho rằng, phát triển là một phạm trù triết học khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.

Nguồn gốc của sự phát triển là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong bản thân sự vật. Cách thức của sự phát triển là quá trình tích lũy về lượng, thay đổi về chất trong sự vật. Khuynh hướng của sự phát triển là quá trình phủ định của phủ định, cái mới ra đời thay thế cái cũ. Khái niệm phát triển còn được hiểu là chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất, về lượng.

Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai. Phát triển mang tính khách quan, đó là quá trình tự thân của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người; mang tính phổ biến, vì nó diễn ra cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy, trong mọi không gian và thời gian; mang tính đa dạng, phong phú, tức là tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của vật chất mà phát triển diễn ra nhiều hình thức khác nhau. Khi nhận thức sự vật phải nhận thức nó trong sự vận động, phát triển, không đánh giá sự vật ở trạng thái đứng im, không vận động, chết cứng. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, ngại khó, ngại đổi mới, dễ bằng lòng với thực tại.

13 Phát triển là khó khăn, phức tạp vì phải giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật; là quá trình tích lũy về lượng, thay đổi về chất lâu dài; là quá trình phủ định thay thế cái cũ. Nhận thức được điều này sẽ tránh tình trạng chủ quan, giản đơn khi đề ra con đường, biện pháp thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển. Tư duy cần phải mềm dẻo, linh hoạt cho phù hợp với sự thay đổi của sự vật, hiện tượng. Thực hiện tốt yêu cầu này sẽ khắc phục được bệnh giáo điều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.2 Khái niệm về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội tự nguyện Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu, có nhiều khái niệm về BHXH do có nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Theo tổ chức lao động Thế giới - ILO (1999) thì: “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc làm mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội”. Theo quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia”. “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”.3 Khái niệm về sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện Phát triển BHXH tự nguyện thể hiện quá trình thay đổi (tăng lên) về số lượng tham gia, chất lượng bảo hiểm ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó, sự thay đổi về cơ cấu đối tượng tham gia.

Qua đó, có thể hiểu rằng: 14 Thứ nhất, sự phát triển BHXH tự nguyện là sự gia tăng về số lượng người tham gia bảo hiểm, cơ cấu đối tượng được mở rộng, có thể từ nhóm lao động nông nghiệp, nông dân, đến lao động tiểu thủ công nghiệp, lao động tự do. Thứ hai, phát triển BHXH tự nguyện thể hiện ở sự mở rộng các chế độ hưởng, hiện nay người tham gia BHXH tự nguyện chỉ được hưởng hai chế độ: hưu trí và tử tuất, cần có giải pháp mở rộng cơ chế, cải thiện chính sách để họ có thể hưởng các chế độ khác như: tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản. Thứ ba, phát triển BHXH tự nguyện còn là sự gia tăng chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện của cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp, hướng tới phát triển BHXH tự nguyện bền vững.4 Lý thuyết về hành vi Có khá nhiều định nghĩa về hành vi khách hàng, nhưng chúng ta có thể hiểu Hành vi của khách hàng là hành động và quy trình ra quyết định mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ. Thuyết hành vi được chính thức thiết lập vào năm 1913 với sự xuất bản bài phân tích của John B.

Watson (người được xem là “cha đẻ” của thuyết hành vi) có tên “Psychology as the Behaviorist Views It. Nói một cách đơn giản, những nhà tâm lý học hành vi thuần túy tin rằng tất cả các hành vi đều là kết quả của trải nghiệm. Từ khoảng năm 1920 đến giữa những năm 1950, thuyết hành vi bắt đầu trở thành trường phái tư tưởng thống trị trong tâm lý học. Trong công trình nghiên cứu Hành vi của người tiêu dùng: Khái niệm và ứng dụng (Consumer behavior: Concepts and Applications), David L.

Della Bitta quan niệm: “Hành vi người tiêu dùng là quá trình ra quyết định và hành động thực tế của các cá nhân khi đánh giá, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ những hàng hóa và dịch vụ”. Trong cuốn “Hành vi người tiêu dùng” (Consumer behavior), Leon G. Schiffman & Leslie Lazar Kanuk quan niệm: “Hành vi người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao 15 gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và xử lý thải bỏ sản phẩm và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ”. Hai quan niệm này đã mở rộng hơn cách hiểu về hành vi người tiêu dùng, không chỉ tập trung vào những biểu hiện bên ngoài của người tiêu dùng khi mua sản phẩm mà còn đề cập đến quá trình tư duy, cân nhắc của người tiêu dùng trước khi quyết định mua sản phẩm và phản ứng của người tiêu dùng sau khi mua sản phẩm.

Như vậy có thể hiểu: Hành vi người tiêu dùng là một thuật ngữ chỉ tất cả các hoạt động liên quan đến việc mua hàng, sử dụng và ngưng sử dụng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng. Nó bao gồm các phản ứng, thái độ về cảm xúc, tinh thần và hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng đối với các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Theo Cooke và Sheeran, (2004) thì hành vi của khách hàng giả định rằng khách hàng là tác nhân trên thị trường. Quan điểm của lý thuyết vai trò giả định rằng khách hàng đóng nhiều vai trò khác nhau trên thị trường.

Bắt đầu từ nhà cung cấp thông tin, từ người dùng đến người trả tiền và đến người định đoạt, khách hàng đóng những vai trò này trong quá trình quyết định.Nếu một doanh nghiệp nắm bắt được hành vi của khách hàng thì họ sẽ có thể đưa ra sản phẩm tốt hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Từ đó, doanh nghiệp đưa ra các chiến lược phù hợp hơn đối với từng khách hàng và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp. Hành vi tiêu dùng để chỉ hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ. Người tiêu dùng là những người mua hoặc sử dụng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cung ứng trên thị trường.

Người tiêu dùng nói chung được phân chia thành hai nhóm cơ bản: Người tiêu dùng cá nhân và người tiêu dùng tổ chức. Người tiêu dùng cá nhân là những người mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng cho cá nhân họ, cho gia đình, cho người thân, bạn bè. Những người tiêu dùng này được gọi là “người tiêu dùng cuối cùng”. Người tiêu dùng tổ chức bao gồm các tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), đơn vị hành chính sự nghiệp, 16 họ là những người mua sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức.

Trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, chủ yếu thường tập trung vào người tiêu dùng cá nhân, bởi vì tiêu dùng cuối dùng là yếu tố bao trùm lên tất cả các dạng khác nhau của hành vi người tiêu dùng và liên quan đến mọi người với vai trò là người mua, người tiêu dùng hoặc cả hai. Mỗi người tiêu dùng có những ảnh hưởng, suy nghĩ khác nhau trong việc ra quyết định tiêu dùng sản phẩm. Những quyết định này chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau và cũng chính những quyết định của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy để thành công trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung ứng sản phẩm, dịch vụ được tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp phải có quá trình nghiên cứu thị trường, phải tìm hiểu thêm người tiêu dùng họ cần gì, nghĩ gì và muốn sử dụng gì.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Huỳnh Văn Hương (2021), Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Cửu Long, Vĩnh Long.
APA 7
Huỳnh, V. H. (2021). Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Cửu Long]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giai-phap-phat-trien-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-tai-huyen-tra-on-vinh-long/9883487855
IEEE
V. H. Huỳnh, "Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Cửu Long, Vĩnh Long, 2021. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giai-phap-phat-trien-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-tai-huyen-tra-on-vinh-long/9883487855

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác

Luận văn thạc sĩ <strong>Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long</strong> cung cấp góc nhìn toàn diện về thực trạng thực thi chính sách an sinh xã hội địa phương. Tác giả phân tích sâu sắc các rào cản thu nhập và nhận thức của người lao động tự do, từ đó đề xuất giải pháp nhân rộng mô hình <strong>bảo hiểm xã hội tự nguyện</strong> hiệu quả. Đây là tài liệu tham khảo giá trị giúp cán bộ cơ sở hoàn thiện quy trình <strong>quản lý thu bảo hiểm</strong> và đổi mới phương thức tuyên truyền. Đồng thời, nghiên cứu gợi mở định hướng thực tiễn nhằm <strong>phát triển đối tượng tham gia</strong>, góp phần củng cố mạng lưới an sinh bền vững.