Tổng quan nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một trụ cột then chốt trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia, tạo điều kiện cho người lao động khu vực phi chính thức tiếp cận chế độ hưu trí khi về già. Tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên – một trung tâm công nghiệp năng động với quy mô dân số khoảng 110.000 người, trong đó dân cư đô thị chiếm hơn 68% – lực lượng trong độ tuổi lao động thuộc diện tiềm năng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ước tính lên tới 21.902 người. Mặc dù hạ tầng kinh tế phát triển và mạng lưới bảo hiểm xã hội đã phủ rộng khắp các xã, phường, số lượng người dân thực tế tham gia loại hình này vẫn còn rất khiêm tốn, chưa khai thác hết tiềm năng của địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những rào cản kinh tế - xã hội, mức độ hiểu biết chính sách và chất lượng dịch vụ hành chính công đang cản trở việc phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn; phân tích, đánh giá thực trạng thu và phát triển đối tượng giai đoạn 2014 - 2016; xác định các nhân tố ảnh hưởng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm gia tăng tỷ lệ bao phủ an sinh xã hội trên địa bàn thành phố đến năm 2020.

Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp luận cứ khoa học để cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công và chính quyền địa phương hoàn thiện chiến lược phát triển đối tượng, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu bao phủ bảo hiểm xã hội theo định hướng của Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết an sinh xã hội hiện đại của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) kết hợp cùng mô hình hành vi người tiêu dùng trong lĩnh vực dịch vụ công. Theo khung phân tích của ILO, an sinh xã hội toàn diện bao gồm 9 nhánh trợ cấp cơ bản nhằm bảo vệ thu nhập cho người lao động trước các biến cố giảm hoặc mất khả năng lao động. Tại Việt Nam, chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện được định hình theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH, tập trung vào hai chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh các khái niệm then chốt:

  • Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập, với mức đóng tối thiểu bằng 22% mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn.
  • Đối tượng tham gia: Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc diện áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm nông dân, lao động tự do, thợ thủ công và tiểu thương.
  • Quỹ bảo hiểm xã hội độc lập: Quỹ tài chính tập trung vận hành theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít, trong đó mức hưởng tỷ lệ thuận với mức đóng góp và thời gian tham gia.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm độ tin cậy và tính khách quan, nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định lượng và định tính trên nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2014 - 2016. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo tổng kết, số liệu quyết toán tài chính định kỳ của cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra chọn mẫu với quy mô cỡ mẫu gồm 400 người trong độ tuổi lao động từ tổng thể 21.902 đối tượng tiềm năng. Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức Yamane với mức ý nghĩa sai số 5%. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng qua 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Phân chia 11 xã, phường thành 4 cụm kinh tế đại diện và chọn ra 4 đơn vị khảo sát gồm phường Phố Cò (140 phiếu, chiếm 35%), xã Bình Sơn (110 phiếu, chiếm 27,5%), phường Mỏ Chè (115 phiếu, chiếm 28,75%) và xã Vinh Sơn (35 phiếu, chiếm 8,75%).
  • Giai đoạn 2: Chọn mẫu ngẫu nhiên các hộ gia đình và cá nhân tại 8 tổ dân phố và xóm thuộc các địa bàn trên trong tháng 9 và tháng 10 năm 2017.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tổ thống kê và thống kê kinh tế so sánh trên phần mềm Excel là nhằm lượng hóa mối quan hệ tương quan giữa các biến số độc lập (thu nhập, trình độ văn hóa, mức độ tiếp cận truyền thông) với biến số phụ thuộc là quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ 400 phiếu khảo sát thực tế và báo cáo hành chính giai đoạn 2014 - 2016 đã chỉ ra các kết quả đáng chú ý:

Thứ nhất, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn rất thấp. Trong tổng số 400 đối tượng điều tra, chỉ có 42 người đã tham gia (tỷ lệ 10,5%), trong khi có tới 358 người chưa tham gia (tỷ lệ 89,5%). Mẫu khảo sát ghi nhận độ tuổi bình quân của đối tượng là 35,44 tuổi; cơ cấu giới tính gồm 217 nam (chiếm 54,25%) và 183 nữ (chiếm 45,75%).

Thứ hai, nhận thức về chính sách chưa tương xứng với nhu cầu thực tế. Hơn 60% số người chưa tham gia cho biết họ chưa hiểu rõ quyền lợi hưởng lương hưu và chế độ cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí khi về già. Phần lớn thông tin người dân tiếp cận được chỉ dừng lại ở các thông báo chung qua loa truyền thanh xã, thiếu sự tư vấn trực tiếp theo từng nhóm đối tượng.

Thứ ba, mức thu nhập và tính chất công việc không ổn định là rào cản chi phối lớn nhất. Thu nhập bình quân của nhóm đối tượng phi chính thức dao động từ 1.000.000 đến 3.500.000 đồng/người/tháng. Mức đóng sàn 22% mức chuẩn nghèo (tương đương 154.000 đồng/tháng tại thời điểm nghiên cứu) tạo áp lực kinh tế không nhỏ đối với các hộ thuần nông có nguồn thu phụ thuộc theo mùa vụ thu hoạch.

Thứ tư, chính sách sản phẩm còn thiếu tính linh hoạt ngắn hạn. Việc bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ bao gồm 2 chế độ (hưu trí, tử tuất) thay vì 5 chế độ như bảo hiểm xã hội bắt buộc khiến người lao động trẻ tuổi cảm thấy quyền lợi trước mắt chưa đủ hấp dẫn để duy trì cam kết đóng phí kéo dài từ 20 năm trở lên.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu tham gia và bảng phân tổ thu nhập, phản ánh rõ sự phân hóa giữa các nhóm địa bàn. Tại các phường trung tâm như Mỏ Chè hay Phố Cò, tỷ lệ tham gia đạt mức cao hơn nhờ hoạt động thương mại phát triển và mặt bằng dân trí khá, trong khi tại các xã thuần nông như Bình Sơn, rào cản thu nhập mùa vụ bộc lộ rất rõ.

Khi so sánh đối chiếu với kinh nghiệm tại tỉnh Nghệ An (đạt 21.765 người tham gia tính đến cuối năm 2016, chiếm 30% tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội toàn tỉnh) và huyện Lập Thạch thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (tốc độ phát triển đối tượng tăng 154,24% giai đoạn 2014 - 2016, nâng số người tham gia từ 325 lên 585 người), thành phố Sông Công vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng nếu áp dụng mô hình giao chỉ tiêu gắn với trách nhiệm đại lý bưu điện và rà soát nhóm đối tượng tiệm cận tuổi nghỉ hưu để đóng bù thời gian còn thiếu.

Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ cả hai phía: người dân còn nặng tâm lý tích lũy ngắn hạn, trong khi mạng lưới cộng tác viên, đại lý thu cấp cơ sở chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng tiếp thị xã hội và mức chi thù lao đại lý chưa tạo đủ động lực thúc đẩy mở rộng địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thành mục tiêu mở rộng độ bao phủ an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Sông Công đến năm 2020, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới căn bản công tác thông tin, tuyên truyền chính sách. Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố chủ trì phối hợp cùng các tổ chức đoàn thể địa phương thiết kế các chương trình truyền thông phân nhóm trực tiếp tại từng tổ dân phố, xóm thuần nông và các khu vực tập trung tiểu thương; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hiểu biết chính sách của người lao động tự do lên mức trên 80% trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, kiện toàn và chuyên nghiệp hóa mạng lưới đại lý thu bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công thực hiện ký kết hợp đồng đại lý thu với 100% điểm bưu điện văn hóa xã và trạm y tế phường; tổ chức tập huấn nghiệp vụ định kỳ hàng quý cho đại lý viên; áp dụng cơ chế khoán chỉ tiêu phát triển đối tượng mới tối thiểu 15% đến 20% mỗi năm gắn liền với cơ chế thù lao thỏa đáng.

Thứ ba, tham mưu cơ chế hỗ trợ tài chính từ ngân sách địa phương. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Sông Công kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành chính sách hỗ trợ bổ sung từ 10% đến 20% mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho các đối tượng thuộc hộ nghèo và cận nghèo ngoài phần hỗ trợ từ ngân sách trung ương, bắt đầu triển khai từ năm 2019.

Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Đơn vị bảo hiểm xã hội triển khai hệ thống biên lai điện tử, đa dạng hóa phương thức đóng linh hoạt (đóng hàng tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho những năm còn thiếu) và liên kết thanh toán qua các ngân hàng thương mại, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cấp sổ và hưởng chế độ xuống dưới 3 ngày làm việc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp với các nhóm độc giả sau:

  1. Cơ quan quản lý Bảo hiểm xã hội cấp huyện và thành phố: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang thực chứng để xây dựng kế hoạch phân bổ chỉ tiêu, đánh giá năng lực mạng lưới đại lý thu và tái cấu trúc quy trình tiếp cận người lao động phi chính thức.
  2. Cán bộ tham mưu chính sách an sinh xã hội tại các địa phương: Tham khảo các phân tích kinh tế - xã hội học và phương án trích lập ngân sách hỗ trợ mức đóng cho người nghèo nhằm ban hành các nghị quyết an sinh phù hợp với đặc thù từng địa bàn.
  3. Học viên cao học, giảng viên và sinh viên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý công, Kinh tế lao động: Tiếp cận một nghiên cứu điển hình về phương pháp chọn mẫu phân tầng 2 giai đoạn, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và quy trình xử lý số liệu điều tra kinh tế vi mô.
  4. Lãnh đạo các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên): Nắm bắt tâm lý, nhu cầu của hội viên để phối hợp hiệu quả với cơ quan bảo hiểm trong các chiến dịch vận động an sinh cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Quyền lợi cốt lõi của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là gì? Người tham gia được nhận lương hưu hàng tháng khi tích lũy đủ 20 năm đóng bảo hiểm và đạt độ tuổi luật định, được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí với mức thanh toán lên tới 95% chi phí khám chữa bệnh trong suốt thời gian hưởng lương hưu; thân nhân được hưởng chế độ trợ cấp mai táng và trợ cấp tuất khi người tham gia qua đời.

  2. Tại sao tỷ lệ tham gia tại thành phố Sông Công giai đoạn 2014 - 2016 còn hạn chế? Khảo sát 400 lao động chỉ ra 89,5% chưa tham gia do thu nhập không ổn định (bình quân 1.000.000 đến 3.500.000 đồng/tháng), mức đóng sàn 22% chuẩn nghèo (154.000 đồng/tháng) còn cao so với khả năng chi trả của nông dân, kết hợp với việc thiếu thông tin truyền thông chuyên sâu tại cơ sở.

  3. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định tính toán như thế nào? Theo quy định hiện hành, mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập do người lao động lựa chọn. Mức thu nhập đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (700.000 đồng, tương ứng số tiền đóng 154.000 đồng/tháng) và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng.

  4. Địa phương có thể học tập được gì từ bài học của Nghệ An và Vĩnh Phúc? Mô hình tại Nghệ An (21.765 người tham gia) và Lập Thạch - Vĩnh Phúc (tăng trưởng 154,24%) cho thấy tính hiệu quả của việc phân bổ dự toán cụ thể cho đại lý thu bưu điện và chủ động rà soát người đủ tuổi đời nhưng còn thiếu từ 1 đến 10 năm đóng để vận động đóng một lần hưởng ngay lương hưu.

  5. Phương pháp chọn mẫu của luận văn có bảo đảm tính đại diện khoa học không? Nghiên cứu sử dụng công thức Yamane với sai số 5% để chọn 400 mẫu từ tổng thể 21.902 người, phân tầng thành 4 cụm đại diện cho các vùng thuần nông, vùng đô thị và vùng ven khu công nghiệp tại 4 xã, phường gồm Phố Cò, Mỏ Chè, Bình Sơn và Vinh Sơn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển đối tượng trên địa bàn thành phố Sông Công giai đoạn 2014 - 2016 thông qua mẫu khảo sát 400 người lao động.
  • Xác định rõ các nút thắt chính gồm áp lực thu nhập, mức độ nhận biết chính sách còn thấp và sự thiếu hụt các quyền lợi ngắn hạn trong gói bảo hiểm.
  • Đưa ra hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về truyền thông phân tầng, nâng cao hiệu quả đại lý, hỗ trợ ngân sách và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
  • Đóng góp khung tham chiếu khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch chính sách an sinh xã hội tại các địa phương có cấu trúc kinh tế tương tự.

Chính quyền thành phố Sông Công và cơ quan Bảo hiểm xã hội cần sớm phối hợp triển khai các đề án hỗ trợ tài chính và số hóa quy trình thu nộp trong giai đoạn tiếp theo. Độc giả quan tâm hãy ứng dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội toàn dân.