CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỀM VÀ CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. Khái niệm Giá trị Theo quan niệm của C.Mác trong bộ Tư bản, quá trình sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, về thực chất là quá trình sáng tạo ra giá trị và thực hiện giá trị. Quá trình sản xuất hàng hóa có thể hiểu được theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất (công cụ lao động và đối tượng lao động) và sức lao động để tạo ra sản phẩm. Theo nghĩa rộng, sản xuất hàng hóa là quá trình tái sản xuất mở rộng bao gồm bốn khâu: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng; trong đó, vị trí, vai trò của các khâu trong quá trình tái sản xuất đó không như nhau. Sản xuất là khâu quyết định còn các khâu sau chịu sự chi phối của sản xuất mặc dù chúng có tác động ngược lại như tiêu dùng hợp lý sẽ tạo điều kiện đế sản xuất có hiệu quả cao hơn. Khâu phân phối và trao đổi là những khâu trung gian kết nối sản xuất với tiêu dùng.
Cách tiếp cận nghiên cứu của C.Mác là dựa trên phương pháp trừu tượng hóa và có tính khái quát cao, chủ yếu đề cập đến quá trình sáng tạo giá trị từ trong lưu thông. Có thể nói sản xuất là điều kiện cần còn thực hiện hàng hóa là điều kiện đủ.Mác cũng đã mô phỏng mô hình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cấu tạo kỹ thuật (tỷ lệ vốn/ lao động hay c/v) không thay đổi. Thực chất, mô hình này là việc xây dựng một quy trình tạo ra được giá trị sử dụng hay công dụng. Giá trị được tạo ra trong sản xuất chỉ là giá trị cá biệt và khi hàng hóa được tiêu dùng thì mới hình thành giá trị xã hội tức là giá trị đích thực của hàng hóa.
Cũng theo quan niệm của C.Mác, quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình tạo ra giá trị theo cơ cấu: C + V + M; trong đó, C là tư bản bất biến, V là tư bản khả 4 Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. K45 biến, M là giá trị thặng dư. Mức độ phân bố giá trị vào các thành phần của chuỗi giá trị này có sự khác nhau tùy theo đặc điểm của ngành. Trong mô hình với giả định nền kinh tế không có ngoại thương, C.Mác đã trừu tượng hóa nền kinh tế tư bản trong giai đoạn toàn cầu hóa hoàn toàn, không còn sự chia cắt và tách biệt giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Vì vậy, quá trình tái sản xuất được mở rộng trên phạm vi toàn cầu và giá trị được sản xuất và thực hiện cũng trên phạm vi toàn cầu. Quá trình tái sản xuất được mở rộng trên phạm vi toàn cầu làm hình thành nên mạng sản xuất toàn cầu mà trên thực tế, đây là hiện tượng xảy ra khi có sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia kéo theo sự hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế là một trong những điều kiện quyết định sự ra đời của nền kinh tế thế giới hay nói cách khác nền kinh tế thế giới, về thực chất, là tập hợp của các chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành sản xuất hoặc tổ hợp của các chuỗi sản phẩm và dịch vụ. Chuỗi giá trị Có ba luồng nghiên cứu chính về chuỗi giá trị, đó là: i) Filièle (Chuỗi): Phương pháp Filièle (filièle có nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau. Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp.
Phân tích chủ yếu là công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hoạt động sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức tại các nước đang phát triển. Trong bối cảnh này, khung Filièle chú trọng đặc biệt đến các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng. Khái niệm chuỗi (filièle) bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào các hoạt động. Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu tập trung vào vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng, được tóm tắt trong sơ đồ dòng 5 Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1.
K45 chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi. Phân tích Filièle có hai đặc điểm nổi bật sau: - Việc đánh giá chuỗi giá trị về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo và phân phối thu nhập trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí cũng như thu nhập giữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để nghiên cứu ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP. - Phân tích chuỗi lấy sự phát triển của nông nghiệp làm trọng tâm nghiên cứu; quan tâm tới các vấn đề như sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng tham gia, những cản trở và kết quả thu được cho mỗi bên liên quan trong chuỗi, các chiến lược cá nhân và tập thể cũng như các hình thái quy định. Chẳng hạn ở châu Phi có bốn loại quy định liên quan đến chuỗi hàng hóa được phân tích gồm: quy định trong nước, quy định về thị trường, quy định của nhà nước và quy định kinh doanh nông nghiệp quốc tế.
Năm 1989, hai nhà nghiên cứu là Moustier và Leplaideur (Pháp) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi giá trị hàng hóa, bao gôm lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, và hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, có tính đến vấn đề chuyên môn hóa của nông dân và thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa. ii) Khung phân tích của Michael Porter Luồng nghiên cứu thứ hai liên quan đến công trình của Michael Porter (Havard Busniess School) trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance” (1985) về các lợi thế cạnh tranh.Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác.Porter, chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động; trong đó sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi một cách tuần tự và tại mỗi hoạt động, sản phẩm sẽ tích lũy thêm một giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại. 6 Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1.
K45 Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với chuyển đổi vật chất. Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất. Mô hình chuỗi giá trị này là một tập hợp của nhiều công đoạn hay nhiều khâu khác nhau và có quan hệ với nhau cùng tạo ra giá trị như thiết kế sản phẩm, logistics đầu vào, logistics đầu ra, sản xuất, marketing & bán hàng, các dịch vụ hậu mãi cùng với các hoạt động bổ trợ gia tăng giá trị cho sản phẩm như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu,… Với góc độ nghiên cứu này, chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh của doanh nghiệp; do vậy phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành của một doanh nghiệp, một công ty cụ thể. HÌNH 1: KHUNG PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA M.PORTER Các hoạt động Logistics Sản Logistics Marketing Dịch chính đầu vào xuất đầu ra & bán hàng vụ GIÁ Cơ sở hạ tầng TRỊ Quản trị nguồn nhân lực Các hoạt động bổ Phát triển công nghệ trợ Mua sẳm Nguồn: Michael Porter, 1985 Một cách khác để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm hệ thống giá trị; thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là hệ thống giá trị.
Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm chuỗi giá trị của doanh nghiệp. 7 Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. K45 iii) Phương pháp tiếp cận toàn cầu Khái niệm các chuỗi giá trị được Gary Gereffi (Duke University) lần đầu tiên áp dụng để phân tích toàn cầu hoá, tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc gia hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu.
Sau đó, Raphael Kaplinsky [21;4] đưa ra những khái niệm về chuỗi giá trị như sau: Theo nghĩa hẹp (giản đơn): Chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động cần có để sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ giai đoạn xây dựng khái niệm, qua các giai đoạn khác nhau của sản xuất tới phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, dịch vụ hậu mãi và việc vứt bỏ sản phẩm sau khi sử dụng. HÌNH 2: MÔ HÌNH CHUỖI GIÁ TRỊ ĐƠN GIẢN SẢN XUẤT Logistics đầu vào Sản xuất Logistics THIẾT KẾ MARKETING TIÊU THỤ đầu ra Đóng gói Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2001 Theo nghĩa rộng: Chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ…) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán tới tay người tiêu dùng. Chuỗi giá trị rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong các hoạt động như kinh doanh, chế biến, lắp ráp… Như vậy, mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồm một xâu chuỗi các mắt xích nhiều giá trị kết nối tạo nên.