CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƯỚC BASEL II VÀ HỆ THỐNG QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO NHTM 1.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động NHTM Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai, hay là những khả năng của kết quả bất ổn; là khả năng mà tại đó tỷ suất sinh lợi thực tế khác biệt so với tỷ suất sinh lợi mong đợi. Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định (Trần Huy Hoàng và cộng sự, Quản trị Ngân hàng Thương Mại, 2007, trang 123) Trong hoạt động của các NHTM, thường phát sinh những rủi ro sau: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá,….2 Quản trị rủi ro trong hoạt động NHTM Một ngân hàng kinh doanh bị lỗ liên tục hoặc thường xuyên không đủ khả năng thanh khoản có thể dẫn đến một cuộc rút tiền quy mô lớn và con đường phá sản là tất yếu. Như một hệ quả, rủi ro khiến ngân hàng bị lỗ và bị phá sản, sẽ ảnh hưởng đến hàng triệu người gửi tiền, hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng vốn, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng cao, sức mua giảm sút, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội, và hơn nữa sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng trong nước và khu vực Có nhiều trường phái nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro, đưa ra những khái niệm về quản trị rủi ro rất khác nhau. Tuy nhiên quan điểm của trường phái mới được nhiều người tán đồng hơn cả.
Quan điểm này cho rằng cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của ngân hàng một cách toàn diện Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro bao gồm các bước: Nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và tài trợ rủi ro Nhận diện rủi ro Điều chỉnh Đề xuất Giám sát Thông tin mới Phân tích rủi ro Phản hồi Thực hiện Kiểm soát Lựa chọn rủi ro Nhận dạng rủi ro, đây là điều kiện tiên quyết trong quản trị rủi ro. Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm: việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai để có biện pháp kiểm soát, tài trợ phù hợp cho từng loại rủi ro. Phân tích rủi ro là việc tìm ra nguyên nhân gây rủi ro.
Từ việc tìm ra các nguyên nhân, các nhân tố tác động đến các nguyên nhân, phân tích rủi ro sẽ cho ta biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn. Đo lường rủi ro, công việc này đòi hỏi phải thu thập số liệu, lập ma trận đo lường rủi ro và phân tích. Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng hai tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro (mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra), đây là tiêu chí có vai trò quyết định. Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro.
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro, đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 không mong đợi có thể xảy ra đối với ngân hàng. Các biện pháp phòng tránh có thể là: phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin Tài trợ rủi ro. Khi rủi ro đã xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý. Sau đó, cần có những biện pháp tài trợ rủi ro và chuyển giao rủi ro.
Theo Ông Cấn Văn Lực phát biểu tại hội thảo Quản trị rủi ro năm 2013 do Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) đã phối hợp với Tập đoàn Dữ liệu quốc tế IDG tổ chức tại Hà Nội thì có 8 nguyên tắc trong QTRR giúp ngân hàng kiểm soát rủi ro một cách tốt nhất Chấp nhận và quản lý rủi ro cho phép (khẩu vị rủi ro); Tính tương quan giữa mức độ rủi ro và thu nhập; Nguyên tắc phân tán rủi ro; Tính phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng; Tính tương quan giữa các loại rủi ro; Tính độc lập, theo đó bộ phận QTRR báo cáo trực tiếp ban lãnh đạo ngân hàng; Tính liên tục đảm bảo theo kịp thay đổi thị trường; Tính cần thiết khi triển khai một sản phẩm mới 1.2 HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGÂN HÀNG Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ vào năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hướng này. Sau một thời gian hoạt động, Ủy ban đã nghiên cứu và đưa ra các Hiệp ước yêu cầu về an toàn vốn như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Năm 1998: ban hành Hiệp ước Basel I Năm 1999: đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu Năm 2004: ban hành Hiệp ước Basel II 1.1 Hiệp ước Basel I (năm 1998) 1.1Nội dung cơ bản của Basel I Năm 1988, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I). Ban đầu, Basel I chỉ áp dụng trong hoạt động của các ngân hàng quốc tế thuộc nhóm 10 nước phát triển. Sau này, Basel I đã trở thành chuẩn mực toàn cầu và được áp dụng ở trên 120 quốc gia.
Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - CAR) đạt tối thiểu 8% để bù đắp cho rủi ro, đây là biện pháp dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà không ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền. Phương trình 1.1: Hệ số CAR được tính như sau: Tổng vốn của Ngân hàng được chia thành 2 loại: Vốn cấp 1_ Vốn tự có cơ bản: bao gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi dài hạn, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác, các phương tiện ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng. Đó chính là phần vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được công bố. Vốn cấp 2_Vốn tự có bổ sung: vốn này được xem là vốn có chất lượng thấp hơn, bao gồm: dự trữ không được công bố; dự trữ tài sản đánh giá lại; dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung; các công cụ vốn lai (nợ/vốn chủ sở hữu); nợ thứ cấp.
Tuy nhiên, các khoản nợ ngắn hạn không có bảo đảm không bao gồm trong định nghĩa về vốn này. Các giới hạn: Tổng vốn cấp 2 không được quá 100% vốn cấp 1; nợ thứ cấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tối đa bằng 50% vốn cấp 1; dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi ro; dự trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình (goodwill). Tài sản có rủi ro (RWA): Basel I mới chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng, và tùy theo mỗi loại tài sản sẽ được gắn cho một hệ số rủi ro. Phương trình 1.2 Tài sản có rủi ro trong Basel I: Theo Basel I, hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50%, và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản (Phụ lục 1) Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có tính đến rủi ro thị trường và rủi ro thị trường có thể được tính theo 2 phương thức: bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc bằng các mô hình nội bộ của các ngân hàng.
Nhìn chung, Basel I đã thể hiện một bước đột phá cơ bản liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng. Basel I phân loại tài sản có rủi ro và xác định hệ số rủi ro cho từng loại tài sản, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo rủi ro.2 Những hạn chế của Basel I Mặc dù Basel I đã giúp quản trị ngân hàng hiệu quả hơn, đảm bảo khả năng chống đỡ của ngân hàng với rủi ro tốt hơn. Tuy nhiên, qua quá trình dài áp dụng với xu thế phát triển như vũ bão của hệ thống ngân hàng trên thế giới thì Basle I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. - Thứ nhất, phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản cho vay.
Hệ số rủi ro chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ khả năng tài chính của khách hàng) hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ như theo thời hạn). Điều này chỉ ra rằng có thể các ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đang đối mặt với các loại rủi ro khác nhau, ở mức độ khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Thứ hai, Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hoá hoạt động. Các lý thuyết về đầu tư chỉ ra rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hoá danh mục đầu tư.
Tuy nhiên, theo Basel 1, quy định về vốn tối thiểu không khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng (ít rủi ro hơn) và một ngân hàng kinh doanh tập trung (nhiều rủi ro hơn).